Our forum runs best with JavaScript enabled !

Khu rừng lau - Doãn Quốc Sĩ

Page 2 of 2 Previous  1, 2

View previous topic View next topic Go down

Thumb up Re: Khu rừng lau - Doãn Quốc Sĩ

Post by LDN Fri May 06, 2022 3:57 pm

CHƯƠNG 6 DÒNG SUỐI TÌM ĐƯỜNG

I

Lần cuối cùng Hiển được nghe kể dứt câu chuyện lục quân khóa bảy này đúng vào một dịp Kha đi tuần đêm. Kể dứt chuyện, Kha còn đứng bên Hiển trong khi Hiển ôn lại trong trí cả khung cảnh Phụng Minh Thôn. Hiển nhớ nhất khoảng rừng thông phía Tây mà chàng đã băng qua ngày nào vừa tự Nga về, khu rừng có những con sóc đuôi xòe như bông lau từ trên cao nhìn xuống với đôi mắt đen tò mò một cách ngộ nghĩnh. Hiển nhớ cả con đường mòn dưới rạng thông đưa xuống một dòng suối rộng, nước trong như pha lê và lạnh buốt, hai bên bờ là những bụi cây nhỏ hoa tím và những cây leo hoa vàng. Tựa hồ như tâm hồn Hiển đang mở rộng... mở rộng... Ngay lúc đó Hiển chưa rõ lý do vì sao mà chàng có cảm giác vui vui như vậy, chỉ biết Hiển quên bẵng cả Kha bên cạnh và tiếp tục nghĩ về dòng suối rộng chảy dưới khu rừng thông phía Tây, dòng suối theo hướng Đông Bắc tìm đường đổ ra Dương Tử Giang... phải rồi, dòng suối tìm đường đổ ra Dương Tử Giang.

Hiển không ngờ tình bạn của Kha đã làm ấm lòng Hiển và hình ảnh dòng suối tìm đường thoát ra sông lớn chính là uyên nguyên của hành động giã từ kháng chiến sau này.

Bỗng sực nhớ ra điều gì, Hiển quay sang nhìn Kha chăm chú hỏi:

- Anh cùng đơn vị với Hãng khi còn chiến đấu bên nước nhà?

- Không!

- Hai anh là bạn học cũ?

- Không! (Ngừng một giây) Nhưng tôi với Hãng tuy không cùng làng mà thành như cùng làng.

- Sao vậy?

Kha nở một nụ cười nửa vui nửa buồn với chút ít bí mật rồi tiếp:

- Đó là một câu chuyện khác, còn dài!

Biết rằng Kha chưa chịu kể tiếp "câu chuyện còn dài" này, Hiển trở về chuyện Đảng mà chính Hiển thấy cần được biết rõ hơn. Hiển nói để gợi chuyện:

- Tôi biết lắm, Đảng độc quyền quyết định làm điều này điều nọ, nếu Đảng lầm lẫn khiến xương máu đổ oan, Đảng sẽ độc quyền tự phê bình, nhận lỗi, để rồi lại độc quyền quyết định điều khác. Chúng ta chỉ là nguyên liệu cho Đảng dùng trong các cuộc thí nghiệm và trước sau chỉ có độc quyền cúi đầu tuân lệnh!

Kha gật đầu:

- Anh nói đúng, anh hẳn còn nhớ chín đồng chí về đến cầu Thanh Thủy chỉ vì còn bất mãn, ném giấy tờ hồ sơ lý lịch xuống sông mà phải quay trở lại học tập thêm ba tháng rồi có thể thành sáu tháng, hoặc rất có thể thành chín mười tháng cũng nên. Đảng đã hối hận cho kia rồi mà, sao còn bất mãn?!

Yên lặng khá lâu, Hiển nhớ lại chuyến sang Nga và thái độ thán phục của hai đồng chí anh hùng quân đội, thán phục đến mức bộc lộ nhiệt tình sẵn sàng hy sinh tính mạng để bảo vệ "thiên đường Sô Viết", thán phục đến mức quên mình còn cá tính, dân tộc mình còn cá tính. "Không, không thể thế được, nước Việt Nam quyết không chịu là một thứ cóc vái trời, nước Việt Nam phải là một nốt nhạc có ý thức trong bản hợp tấu của nhân loại"! Hiển vẫn khăng khăng nghỉ vậy. Tiếng Kha tiếp:

- Nghĩ lại khuôn mặt làm ra vẻ hối hận của thằng chính ủy Trần B. buổi tổng kiểm thảo mà tôi thấy... buồn nôn. Thực khôi hài như một con gấu làm trò đứng trên hai chân ôm mật làm bộ xấu hổ mà lại quên không che... hạ bộ.

Vừa xúc động về phong trào tam phản khóa bảy, vưa cảm động về chân tình của Kha đối với mình, Hiển hỏi:

- Thế trong phong trào tam phản anh bị hành hạ ra sao?

- Tôi ở trong một tình trạng đặc biệt: bố mẹ chết cả, anh em không còn một ai, tham gia cách mạng từ thời bí mật; sang tới đây tôi được hiệu bộ ủy cho trông nom tờ nội san, ngoài cái tội vô hại là trong vần thơ của tôi thường có những lời bóng bảy lãng mạn, ngoài ra tờ báo vẫn theo sát tôn chỉ Đảng, họ không thể bới ra điều gì để gán cho tôi thuộc thành phần phản cách mạng cần lên bàn mổ.

- Vì vậy anh thoát?

- Vì vậy tôi thoát.

Yên lặng một giây Kha ngửa mặt hứng gió đêm rồi tiếp:

- Hồi còn ở bên nhà, hình như có hơi ấm của dân tộc nên khi chiến đấu cho Đảng mình ngỡ cũng là chiến đấu cho dân tộc. Sang tới đây đồng đất nước người, chứng kiến cảnh Đảng lăng nhục đồng chí, chứng kiến cảnh mấy đồng chí chết thảm thương tôi mới cảm thấy hết cái mọi rợ của lũ người cuồng tín và cái phí lý của quan niệm muốn thần thánh hóa Đảng, coi Đảng là một cái gì lớn hơn dân tộc, biệt lập hẳn với dân tộc.

- Thế vì sao anh phải ở lại khóa Tám học với chúng tôi?

- Vì tôi luôn luôn tỏ ra thân mật với Hãng.

- Hãng đâu?

- Hãng được về nước công tác rồi.

- Chính Hãng được về nước mà anh ở lại?

- Thoa dịu đương sự nhưng trừng phạt những ai có cảm tình nồng đượm với đương sự đó là chính sách "mâu thuẫn thống nhất" của Đảng.

Giọng Hiển âu yếm hẳn:

- Tại sao anh tin tôi đến mức kể hết những chuyện đó?

Kha cười:

- Trước hết tôi biết anh chưa được kết nạp là đảng viên thưc thụ; anh lại chỉ mặt cán bộ đảng viên mắng như vậy thì chuyện thực thụ còn lâu lắm. Thứ nữa tôi biết xem tướng (Kha lại cười), anh không có tướng phản bạn!

Ngừng một chút Kha tiếp:

- Vui nhất là đúng vào dịp đó phó chính ủy Lê K. bị "nhân dân" đòi về. Nguyên do: Bà Cát Hanh Long bị giam tại trại Liên khu Việt Bắc khoảng cây số 5 trên con đường từ Thái Nguyên đi Bắc Lạng, rồi bà bị tòa án nhân dân kế án tử hình; rồi một hôm vào bốn giờ sáng họ đưa bà vào Phúc Xuân; bà bị bắn cùng cụ cử Trần Thúc Cáp là người hồi đầu kháng chiến đã từng làm thơ với "già Hồ", đã từng được Đảng đề cao uy tính bằng cách cử làm chủ tịch hội Liên Việt Liên khu Việt Bắc. Xử tử mẹ xong, "nhân dân" gọi đến con; phó chính ủy Lê K. phải về đúng vào dịp này. Em ruột y là H. còn nhỏ tuổi chỉ bị có năm năm cấm cố, chính ý bị hai mươi năm khổ sai. Mới đây lại có tin đồn y chết trong một trận oanh tạc. Chẳng rõ có đúng?

- Duy Hoàn và Uy còn ở đây không? - Hiển hỏi.

- Đi rồi.

- Đi đâu?

- Mông Tự bên kia Lao Kay.

- Làm gì?

- Theo lớp huấn luyện pháo binh ở đó. Anh còn nhớ tôi có thuật lời Uy nói với Hãng vào buổi đầu Hãng đến thăm Uy sau khi Đồng tự tử?

Hiển nheo mắt cố nhớ lại thì Kha đã nhắc:

- "Em không tự tử như Đồng, em phải làm một việc gì đích đáng!"

- À phải rồi, phải rồi, tôi nhớ - Hiển vưa nói vừa gật đầu lia lịa.

- Duy Hoàn không nói ra nhưng tôi biết là cùng tâm trạng như Uy. Và còn biết bao tâm trạng Duy Hoàn và Uy trong đám gia nhập trung đoàn pháo binh đó. Họ đương sửa soạn dự một chiến dịch lớn. (Tức là chiến dịch Điện Biên Phủ sau này).

Qua đi một phút im lặng, Kha tiếp:

- Anh hẳn nhớ Vronsky tron truyện Anna Karénine? Vronsky đi đánh giặc thuê để tìm sự an ủi tâm hồn, nhưng Duy Hoan và Uy và nhiều khác nữa, họ không đồi bại như vậy, họ xử dụng cả cái chết của họ để đem lại ích lợi cho tổ quốc như con nhà nghèo không muốn phí phạm cái gì.

- Thế còn Hãng được cử về nước?

- Hãng về nhận công tác tại Bộ Tổng Tham Mưu. Chắc lại ở cơ quan địch vận!

- Tại sao Hãng với anh tuy không cùng làng mà như cùng làng?

Kha cười, nụ cười thật hiền. Anh nhìn đồng hồ tay rồi nói:

- Khuya lắm rồi chúng ta nên đi nghỉ, chỉ còn mấy phút nữa là hết phiên tuần đêm của tôi.

Kha giơ tay, Hiển nắm lấy ưu ái! Họ đã thật là đôi bạn thân, cảm thấu lòng nhau. Đôi bạn giữ chặt tay nhau khá lâu, hai luồng điện thông cảm giao thoa nơi hai bàn tay đó, rồi chiếu sáng hai tâm hồn khiến họ quên ánh sao lấp lánh trên vòm trời khuya, quên hơi sương lạnh của núi rừng Phụng Minh Thôn.

II

Tới đây xin mở một dấu ngoặc.

Hãng, người con trai thân hình vạm vỡ, tính tình thẳng ruột ngựa đó, bắt đầu cảm thấy đường lối tráo trở của Đảng và thường cũng như tâm lý những người trước đây đã cho ai lòng tin không mặc cả, khi phảI lấy lại, càng nhìn bằng đôi mắt nghi kỵ, xét nét, xoi móc. Có điều đôi bạn Hiển Kha không biết rằng Hãng được cử về nước một tuần thì viên chính ủy nhận được công văn bí mật tự nước nhà gửi sang cho hay cha Hãng, địa chủ bị bao vây, đã tự vẫn, hiệu bộ cần giữ Hãng ở lại khóa Tám và cho theo dõi hành vi, tư tưởng. Trót để Hãng đi rồi, viên thiếu tướng chính ủy chỉ còn ước mong Hãng đừng về thăm nhà, mà đến thẳng Bộ Tổng Tham Mưu trình diện, nhận công tác mới.

May thay, Hãng đã về đồn điền Thanh Ba - đồn điền Lợi Ký - và gặp Vân giữa đường. Tới lúc đó chàng mới hay tin cha treo cổ tự vẫn, cán bộ tam cùng cho lột trần truồng ông, chỉ xác mắng là "quân trốn nợ nhân dân" trước khi cho chôn, không cả bó chiếu.

Vân khóc lóc kể cho anh hay thêm là cả Mạnh - (chồng nàn, cựu chủ tịch huyện Thanh Ba) - cũng mất tích luôn từ ngày bị địch bắt trong chiến dịch Citron. (Thôi làm chủ tịch huyện Thanh Ba, Mạnh được cử làm tỉnh ủy viên hoạt động tại Hải Dương). Hãng cho Vân biết chính anh cũng bị bắt trong chiến dịch đó cùng với Mạnh. Hai anh em không dám nhận nhau, khi cả hai bị giải tới trại giam Hải Dương thì Mạnh được tha trước.

Vậy thì Mạnh mất tích ở đâu?

Vân hàn huyên với anh những gì?

Chính nàng rồi đây ra sao?

Chỉ biết Hãng không quay lên Việt Bắc để tới trình diện tại Bộ Tổng Tham Mưu. Vân tiễn anh một quãng đường, rồi Hãng vào thành. Anh cần tìm gặp mẹ và em; bốn tháng trước ngày ông Phá bị bao vây bà Phán đưa Thi vào thành để điều trị bệnh lao cho nàng. Như vậy chỉ còn Vân ở lại hậu phương kháng chiến; nàng đợi Mạnh!

III

Nơi huấn luyện trung đoàn pháo binh không ở Phụng Minh Thôn mà ở Mông Tự - phía Lao Kay sang, nhưng chúng ta biết - Hiển được cử tới đó theo học sau khi đã qua ba tháng cơ bản về bộ binh. Phải khéo léo lắm Kha mới xin được một công tác về nước liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu để rồi sẽ quay lại. Hiển giả vờ ốm nằm quân y viện hai ngày đợi. Đôi bạn ra đi cùng một ngày!

Dời khỏi trường, họ bước miết trên đường ra ga xe lửa đi Khai Viễn. Hai cặp giò khỏe mạnh là thế mà cũng run lên vì cảm động. Khi đã ngồi bên nhau trong toa xe lửa rồi, Kha mới nói:

- Tôi cô độc từ hai năm nay, ra đi có đôi thế này ấm cúng quá.

Hiển bảo bạn:

- Về nước tôi còn phải đến huyện Lập Thạch đón đứa em gái.

Kha gật đầu:

- Được lắm chúng ta sẽ cùng về Lập Thạch.

Từ Phụng Minh Thôn đi Khai Viễn mất một ngày xe lửa. Từ Khai Viễn tới Nghiên Sơn mất hai ngày đi bộ đường núi. Đi thêm non một ngày nữa tới Si Kai, nơi đây ngọn nguồn con sông Lô là một khe suối nhỏ. Kha ghé miệng xuống uống một ngụm rồi gục mặt rất lâu trong dòng suối, khi đứng lên nói với Hiển:

- Hơi hướng tôi sẽ theo ngọn nguồn con sông Lô này mà về nước trước!

Từ Si Kai đôi bạn luôn luôn dọc theo đường đỉnh núi, nhìn xuống bên dưới là Ma Li Phố, một thị trấn nhỏ; dưới nữa là dòng sông Lô càng về gần Việt Nam càng rộng lớn. Đường lên Cổng Giời ngước trông chỉ thấy hun hút, đi từ sáng tới trưa mới tới đỉnh, nơi đây có cây đa cổ thụ hàng mấy trăm năm. Từ Cổng Giời đi xuống, về tới cầu Thanh Thủy mất một ngày đường nữa. Qua cầu sang biên giới quê hương rồi, đôi bạn dọc theo hữu ngạn sông Gấm qua Bác Me, Pac Van, Đại Thi. Tới Tuyên Quang đôi bạn mới vượt sông Lô về huyện Lập Thạch. Tới đâu, qua đâu cả hai cùng có thái độ rất đàng hoàng: vừa là quân đội cấp chỉ huy, vừa đủ các giấy tờ!

Một tuần qua đi, quân y viện Lập Thạch hay việc Miên theo anh biệt tích, nhưng tại Phụng Minh Thôn phải đợi ngót một tháng sau vào ngày mùng một tháng tám, ngày kỷ niệm thành lập giải phóng quân Trung Quốc, trường lục quân đương tưng bừng treo đèn kết hoa, viên thiếu tướng chính ủy mới hay tin cấp báo đôi bạn đã về vùng quốc gia.

Thật ra tất cả câu chuyện Phụng Minih Thôn phải đợi tới khi về Hà Nội Miên mới được nghe Hiển dần dà thuật lại cho hay, thuật lại từng chi tiết nhỏ với thứ nghệ thuật kể chuyện đơn sơ mà vô cùng gợi cảm, đặc biệt của Hiển. "Anh vẫn có tài kể chuyện! Nếu cứ được anh kể chuyện mãi thế này, mình sẽ vĩnh viễn là trẻ thơ" - Miên luôn luôn tự nhủ thầm vậy sau mỗi lần nghe dứt một đoạn.

Giờ đây chúng ta hãy theo dõi bộ ba Hiển, Kha, Miên từ lúc họ dời khỏi Lập Thạch tới khi họ vào được miền quốc gia. Quãng đường tuy ngắn nhưng không phải là không

_________________
I stand with Ukraine

Cầu nguyện cho Ukraine
LDN

LDN


Back to top Go down

Thumb up Re: Khu rừng lau - Doãn Quốc Sĩ

Post by LDN Fri May 06, 2022 4:00 pm

 CHƯƠNG 7 HAI LẦN SANG SÔNG

I

Tình ta thức trẳng tinh cầu

Hồn ta tím ngát một màu hoa lau.

Giọng ngâm đắm đuối của Kha tỏa ra man mác cùng nắng và gió trên đỉnh núi đầu làng Thạch Trục đã biến thành mủi tên êm ái mà Miên là… con chim bị thương. Hiển luôn luôn cắn môi, nhíu lông mày, theo dõi điều gì thăm thẳm trong tâm tư. Ba người dời khỏi Lập Thạch sang địa phận huyện Học trì, họ dự định vào thành bằng ngả Sơn Tây. Đi về ngả này xa hơn về ngả Vĩnh yên rất nhiều nhưng theo tin tức truyền qua cửa miệng dân chúng thì địch đương mở cuộc hành quân lớn quanh Vĩnh Yên, họ cần tránh tên bay đạn lạc! Họ dự định vào nửa đêm hôm đó sẽ lẩn vào với dân chúng qua Ngã ba Hạc sang vùng quốc gia.

Cả ba vào ngồi một quán nước khuất dưới cây đa um tùm. Qua những mẩu chuyện dân chúng trao đổi, ba người được biết đồn binh địch tại Việt trì lại mới được biết đồn binh địch tại Việt trì lại mới được tăng cường. Mấy ngày nay, chiều nào trọng pháo cũng trõ sang vùng kháng chiến mà khạc đạn và suốt mười cây số đê trên và dưới Việt trì, các đội lê dương dồn dập tuần tiễu đêm ngày tựa như sắp có trận đánh lớn. Nhưng đó cũng có thể chỉ là nghi binh - vẫn dư luận dân chúng - vì dạo này địch hay dương Đông kích Tây lắm.

Vẫn theo lời dân chúng thì cửa ngõ giao thông giữa hai khu quốc gia và kháng chiến đã chuyển lên Ngã ba Lời phía trên Hạc trì chừng mười hai cây số vừa đường đê vừa đường nhựa: nhu cầu giao thông giữa hai miền khẩn bách như sức cây đang lớn, chặt cành này chồi đâm ở cành khác.

Hiển khẽ đưa mắt, cả ba cùng đứng dậy. Họ cần vượt ngay mười hai cây số để còn kịp lợi dụng ánh sáng buổi chiều mà quan sát quãng sông sẽ sang ngang đêm nay. Hai người đàn ông đi trước, Miên dẻo bước theo sau. Đi suốt năm cây số đường đê, nhìn bãi ngô mênh mông bên trái, những làng mạc với lũy tre xanh rờn bên phải, Kha mới sực nhớ đã có qua đây vào năm đầu kháng chiến khi trung đoàn Thủ đô vừa rút khỏi Thành. Chàng nói với Hiển:

-Khoảng quê hương lâu đời nhất của dân tộc hẳn là vùng này. Hồi mới kháng chiến, vào dịp đầu xuân tôi qua đây còn thấy dân chúng giồng cây đu chơi xuân. Đến nay tuy không phải mùa xuân và đầu có gặp mùa xuân chắc chắn cũng chẳng còn cảnh giồng cây đu, nhưng xem ý dân chúng cò thuần phác không đượm về kinh hoàng hay nghi kỵ như những vùng bên trong chúng ta đã đi qua.

-Đây sát vùng tế - Miên góp lời - nếu cũng đấu tố như ở Tuyên quang, Thái nguyên và phía trong Vĩnh yên, Phú thọ, dân chúng sang sông hết thì xong.

Cùng lúc đó có tiếng hò trên sông vẳng lại:

Ơ này hò ơ…

Sông Thao nước đỏ người đen,

Ai lên phố Ẻn thì quên đường về.

Hiển nói:

-Đã lâu lắm tới đây tôi mới được gặp lời ca thật của dân tộc, không bị nhuộm "màu và mùi" tuyên truyền.

Kha giọng mỉa mai hơn:

-Tôi tởm tuyên truyền! Đã lâu lắm tôi mới lại được nghe tiếng "người" hát.

Kha lơ đãng quay sang bên Miên, Miên thấy tia nhìn của "anh chàng" có chiều âu yếm và dịu đi nhiều. Một chiếc thuyền rẽ sóng, lướt theo bờ rồi ghé vào bến vắng, một cô gái mặc áo nâu non, đầu chít khăn mỏ quạ,t ay cầm nón, từ khoảng lau bên bến nhô ra, lên thuyền, con thuyền ngược dòng một quãng rồi sang ngang. Hiển và Kha miết mải đi. Miên rảo bước theo nhưng vẫn không quên nhìn theo con thuyền khi đó chỉ còn nhỏ tắp như chiếc lá rụng. Miên có cảm tưởng nàng vừa ra đây để tiễn một cô bạn cùng làng lấy chồng ở bên kia sông.

Cả ba tới bến Lời vào lúc mặt trời vừa lặn. Một vài ánh nắng tàn còn rớt trên các ngọn cây đây đó. Trời sâu thăm thẳm. Những tiếng động tự trong các thôn xóm vẳng ra hòa với tiếng sóng vỗ vào bờ và tiếng chim ríu rít về tổ thành một bản nhạc chiều muôn thuở êm như ca dao.

Bến Lời còn vắng thuyền, vắng người. Trai gái tự trong thôn theo nhau ra tắm ở khoảng có ghềnh đá đỏ ven bờ. Kha thốt lời nói:

-Da cô nào cũng đỏ hồng như dòng sông, đôi mắt đến là tinh nghịch, cô nào cũng đẹp như công chúa Tiên Dung chẳng cần phải lên đến phố Ẻn mới quên đường về. Kìa, đàn ông thì vị nào cũng tắm kiểu… Chử Đồng Tử!

Thấy Hiển chỉ tủm tỉm cười, Kha sực nhớ còn Miên đứng phía sau, vội nói lảng:

-Ba sinh hương lửa, ha! Chúng mình thật là ba sinh hương lửa!

Hiển và Miên ngơ ngác, Kha giải thích thêm:

-Này nhé! Hết Pháp thuộc đến Nhật thuộc rồi đến Việt minh thuộc, thế chẳng là ba sinh hương lửa sao?

-Ồ nhỉ đúng! - Hiển vừa đáp dứt lời thì Kha đã vì một liên tưởng nào đó cất tiếng ngâm:

Ba sinh đã phỉ mười nguyền

Duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy.

Hiển giơ tay chỉ về phía xa:

-Dưới đê đằng kia có cái quán, tốt hơn hết chúng ta nên lại đó nghỉ, đợi đến nửa đêm.

Ba người theo đường mòn men xuống vệ đê. Kha lại cất tiếng ngâm:

Ngẫm hay muôn sự tại trời

Trời kia đã bắt làm người có thân,

Bắt phong trần phải phong trần,

Cho thanh cao mới được phần thanh cao.

Giọng ngâm của Kha tuyệt hay, Miên thấy rùng mình với gió chiều. Miên nhận thấy khi ngâm thơ Kha coi như không có ai quanh chàng cả. "Con người này phải nhiều đam mê lắm", Miên nghĩ thầm thế.

Cả ba đã tới quán ăn.

III

Quán tranh thấp nhưng có vẻ ấm cúng. Trong cùng kê hai giường tre cho khách trọ ngả lưng, giữa nhà kê bốn bàn gỗ, mỗi bàn gỗ có bốn ghế đầu gợi hình ảnh một mẹ bốn con, ngoài cùng là quầy hàng có bày các thức ăn. Đậu, thịt kho bày trên đĩa; xu hào hành, tỏi, giò heo, thịt bò… treo lủng lẳng trên móc. Trong quán, ngồi bên chiếc bàn gỗ mộc ở bên phải phía ngoài là một thanh niên dáng người quắc thước, trán rộng, mắt sáng, nước da trắng hồng. Căn cứ vào cách ăn mặc - quần si-mi-li xám, áo lót mình kẻ vuông - người đó muốn chừng mới ở "bên kia" sang thì phải.

Hiển đương định tìm cách làm quen thì chàng thanh niên đã tiến tới hỏi ba người:

-Tôi xin lỗi hỏi thi không phải, các đồng chí là bộ đội cả thì phải?

Hiển đáp:

-Vâng, chúng tôi cùng trong bộ đội cả. Còn đồng chí mới tự trong Thành ra?

Chàng thanh niên nhìn Hiển Kha bằng con mắt thán phục và thèm muốn rồi mới đáp:

-Đúng ạ. Kể ra thì tôi bắt được liên lạc ngoài này đã từ ba tháng rồi, nay mới thoát được. Đồng chí dẫn tôi còn đi lấy giấy tờ, chắc chỉ sớm mai lại trở lại đây.

Kha hỏi:

-Tình hình bên đó ra sao?

-Bỉ ổi! - Chàng thanh niên đáp gọn như một tiếng nổ công phẫn, tựa hồ đã từ lâu chàng chỉ đợi hỏi thế để đáp thế.

-Tinh thần dân ta ra sao? - Kha hỏi tiếp.

-Tinh thần dân ta thì ở đâu cũng một lòng lo lắng đến tương lai tổ quốc, nhưng thối nát ở tụi cầm quyền. Biết rằng có thể gọi chúng là "tụi cầm quyền" được không, vì sự thực chúng làm gì có quyền! Chúng tuyên bố ầm ĩ là Pháp đã trả độc lập cho Việt Nam, kỳ thực bao quyền hành chính vẫn gọn thon lỏn trong thực dân. Nhất là về kinh tế lại càng bi thảm. Các đồng chí hãy tưởng tượng vào thành phố Hà nội, chao ôi, lớn từ chiếc xe ô to, nhỏ đến chiếc đinh đóng guốc đều là hàng ngoại hóa. Các đồng chí hãy tưởng tượng vào một công sở, thôi thì bóng đèn nê-ông sáng xanh, máy chữ, cặp giấy, cặp sách, bút mực, bút chì… thầy đều nhập cảng tự ngoại quốc. Mình nhìn thấy thì đau lòng, trong khi lũ cao cấp, chúng đua nhau nịnh hót quan thầy, chúng biết chỉ là nhục, chúng, lũ không óc!

Miên rụt rè hỏi:

-Nghe nói phụ nữ Hà nội tiến lắm phải không ạ?

-Chà như đầm! - Chàng thanh niên vừa thở phào, vừa mỉm cười đáp - Tôi không phản đối việc Âu hóa của họ, điều đáng buồn là họ chỉ Âu hóa được cái hình thức. Chẳng riêng gì phụ nữ, các giới khác cũng vậy, họ như những chai dò đáy, bên ngoài dán nhãn hiệu Tây phương bên trong rượu nồng của ông cha đã chảy hết, chỉ còn chai rỗng.

Kha chợt hỏi:

-Thế còn văn chương nghệ thuật?

Người thanh niên cười rũ:

-Cơ quan liên lạc đưa những người tự thành vào hậu phương thiết lập ngay dưới mũi địch là một làng tại Gia lâm. Trước khi từ giã Hà nội, tôi ra ngắm hồ Gươm một lần nữa. Máy phóng thanh khoảng gần nhà Khai Trí Tiến Đức ông ổng một bài nhịp slow ảo não nhưng lời ca toàn những: "ra đi, chiến đấu, quyết diệt thù…" Quân thù nào? Quân thù là lũ thực dân ở ngay trước mắt chứ còn ai nữa.

Người thanh niên cúi đầu, ngón tay trỏ gãi trán, dáng điệu càng khôi hài, tiếp:

-Cùng lúc với bài slow "Quyết diệt quân thù" hòa điệu với hình ảnh bác xích lô ghếch xe ven đường rồi tiến tới một gốc cây lớn, vén quần, hơi khuỵu hai đầu gối tè!

Chàng thanh niên lại cười rũ một hồi, rồi mới tiếp:

-Tôi phải xin lỗi nữ đồng chí đây vì tôi không thể thuật lại sự thực đó một cách thanh nhã hơn, nhưng âm thanh slow với lời ca "quyết diệt quân thù" hòa điệu với hình ảnh bác xích lô khuỵu hai đầu gối tiểu tiện dưới gốc cây, quả thực đã tượng trưng trọn vẹn cho hiện tình văn nghệ Hà nội dưới danh nghĩa một nền độc lập giả hiệu.

Sự thất vọng mênh mông tràn vào tâm hồn ba người nghe chuyện cùng một nhịp với bóng tối tràn tới mênh mông ngập cả cánh đồng, làng mạc, dòng sông… Người chủ quán đương lăng xăng đi tìm diêm thấp đèn.

-Trước khi vào đây, đồng chí làm gì ở Hà nội? - Chỉ nghe thấy Kha hỏi, khuôn mặt anh chìm trong bóng tối.

-Tôi chưa làm gì cả. Tôi sang Pháp học từ năm 1949 năm ngoái tôi đã đỗ một phần tiến sĩ Luật về kinh tế. Tôi bỏ dở việc học về nước những mong giúp chính phủ mới giành được độc lập. Về tới nơi thấy cảnh tượng như vậy tôi bèn… "trùm chăn", rồi bắt được liên lạc với ngoài này, rồi hôm nay đến đây để chờ giấy giới thiệu lên Việt Bắc. Cha mẹ tôi đều còn sống và ở Hà nội cả.

Ánh đèn dầu tây nhuộm vàng hoe cả căn nhà trọ. Bên ngoài, trời đen kịt không còn nhận đâu là đường ra sông, đâu là cánh đồng. Vẻ mặt chàng thanh niên lộ vẻ nhẹ nhõm sau khi tố cáo những thối nát ở vùng quốc gia. Chủ quán lách cách sửa soạn dọn cơm, người thanh niên trí thức xin rút lui trở lại bàn cũ ngồi.

Kha thở dài nói khẽ đủ để ba người nghe thôi:

-Anh bạn tưởng đương đi vào tương lai, chúng mình sắp mất hiện tại mà tương lại thì chưa có!

Rồi cả ba cũng gọi cơm ăn.

Quán đã bắt đầu tấp nập, kể từ bến Lời tới, người từ các thôn xóm ra. Bến quan ải đã mở cửa, giờ giao thông bắt đầu. Cơm nước xong chàng thanh niên tới mắc áo thò tay vào túi blouson lấy ra bao cotab mang lại mời Kha và Hiển rồi trở về bàn. Quán đông người quá rồi, câu chuyện tương đối đã đủ nên đôi bên cùng không muốn gọi chuyện thêm nữa mặc dầu cảm tình với nhau có lai láng.

Hiển và Kha khuyên Miên nên ra giường ngả lưng nằm nghỉ lấy sức để khoảng nửa đêm còn sang sông, sau đó hai chàng lững thững lên đê nghe ngóng tình hình.

Dòng sông đen ngòm, đôi bờ bí hiểm, ánh đèn của những con thuyền đây đó phản chiếu xuống dòng nước thành những ánh vàng leo lét càng làm tăng vẻ hiu quạnh của cảnh sông nước. Tiếng người ồn ào vẳng từ dưới bên, bốc hỏa lên, rồi mất hút ngay trên vòm cao mà bóng tối tựa như trong suốt.

-Lịch sử có định mệnh của nó - tiếng Hiển - cuộc kháng chiến toàn quốc xảy ra vào năm 1946, giả sử nó có chậm đi vài năm thì rồi chúng ta và dân chúng vẫn rơi vào tay cộng sản. Một đảng thì được huấn luyện kỹ trong trường lừa đảo, lại biết rút kinh nghiệm quốc tế, một đằng thì ô hợp, ngờ nghệch, cả tin.

-Thôi, cầu mong cho anh chàng ban nãy khi tỉnh mộng cũng gặp được nhiều may mắn như bọn mình - Kha nói.

-Hồi đầu kháng chiến - giọng Hiển trầm ngâm hẳn - tôi có được nghe thuật lại lời của một lãnh tụ quốc gia, - quốc gia chân chính, lẽ cố nhiên - ông nói: "Chúng ta chưa đến thời. Phải để cho cộng sản thành công đã, nhiên hậu sự thành công của chúng ta mới bền". Hồi đó tôi còn đương hăng, không để ý đến ý nghĩa sâu sắc của lời nói, bây giời càng thức thời chói lọi đứng tít trên đỉnh cao, nhìn suốt dòng lịch sử, thấy trước những khúc quành phải kinh qua, họ cô độc thật!

Kha đặt nhẹ tay lên vai Hiển và nói:

-Hình như Moise có nói: Je suis grand mais solitaire!

Sao đã mọc rất nhiều trên vòm trời. Bãi Kiều mộc ngăn đôi dòng sông Hồng và dòng sông. Đã hiện lên lờ mờ đằng xa như một bãi tha ma trôi trên một cons sông lạnh dưới âm phủ. Tiếng Kha ngâm cố làm vẻ đùa cợt nhưng nghe thật buồn, cũng chẳng khác gì tiếng than thầm tự âm phủ vẳng lên:

Ai mang tôi đến chốn này

Bên kia không óc bên này không tin

III

Miên lại mơ thấy mình leo lên núi Sáng, gần tới khu rừng lau thì lửa bốc cháy tự một bãi cỏ, lửa bén rất nhanh vào khu rừng lau khô xác, rồi lửa quấn vào thân cây trò chỉ cao ba mươi thước. Cây trò chỉ biến thành thác lửa đổ sập xuống. Miên muốn thét lên một tiếng thì vừa bừng tỉnh. Nàng ngồi xổm dậy ngơ ngác nhìn quanh. Trong quán kẻ ra người vào tấp nập một cách xa lạ. May thayy Kha cũng vừa tiến tới sát bên nàng nói khẽ:

-Cô sửa soạn, chúng ta lên đường.

-Mấy giờ rồi anh Kha - Miên hỏi.

-Khoảng hai giờ sáng.

-Chết chưa, tôi ngủ được nhiều thế kia anh?

-Cô ngủ được thế là may.

Miên chú ý thấy Hiển tay cầm bút chì đang ghi vội những gì trên tờ giấy màu vàng bẩn. Ghi xong, Hiển đứng lên dời khỏi bàn, tiến về phía mắc áo, gài nhanh mảnh giấy đã gấp gọn vào túi blouson (chàng thanh niên khi đó đương ngáy khò khò ở giường bên). Miên lờ mờ đoán được nội dung bức thư Hiển viết cho chàng thanh niên.

Ba người đưa mắt nhìn nhau kín đáo ra hiệu. Họ ra khỏi quán, rẽ vào một ruộng ngô; mấy phút sau họ hoàn toàn có vẻ là ba người dân vùng tề chuyên đi bờ lờ (buôn lậu). Hiển đã dấu giấy tờ của cả ba dưới một tảng đá lớn bên vệ đê, để nhỡ sang bên kia không trôi chảy thì ba người còn giữ được nguyên giấy tờ bên này, tránh mọi lôi thôi. Là Hiển quá lo xa thế!

Trên một mô đất khuất có đám con buôn đương đổi tiền, Hiển tập trung tiền của ba người lại mới đổi được bốn chục bạc Đông dương.

Kha nói khẽ:

-Giá sinh hoạt bên kia rẻ, với số tiền này thừa đủ để chúng ta cầm cự về tới Hà nội.

Mãi tới bốn giờ sáng ba người mới xuống thuyền sang sông, trên thuyền còn chở thêm năm người nữa đều là dân buôn lậu, không kể hai vợ chồng người lái.

Miên hồi hộp lắm, luôn luôn đưa mắt nhìn lên bờ chỉ e có sự gì trở ngại: công an miền kháng chiến bất chợt xuất hiện hỏi giấy tờ chẳng hạn. Kha cũng như Hiển đều giữ được vẻ mặt lầm lì điềm tĩnh.

Giây phút nóng lòng chờ đợi tới. Người chồng dựng chiếc quan sào lên, chống vào bờ rồi tì vai, lưng hơi khom lấy sức đẩy. Con đò tròng trành… tròng trành… Ba lần như vậy con đò dời hẳn bờ, người chồng hạ quan sào xuống bắt đầu dùng tới hai mái chèo, người vợ chăm chú bẻ lái.

"Cảnh sông nước này, con thuyền này đúng là sông nước trầm luân con thuyền tế độ!" - Miên nghĩ thầm thế.

Hiển khoanh tay trước ngực khẽ thở dài nói với Kha:

-Dân tộc mình còn phải chiến đấu nhiều, chiến đấu với nô lệ bên kia, chiến đấu với độc tài bên này, chiến đấu với những thói quen nô dịch ở ngay trong lòng mình.

Cả ba cùng ngồi xuống thang thuyền. Miên ngồi sát bên Kha. Vì chỗ ngồi chật, Miên cảm thấy nàng đang dựa vào một thân hình vững chắc như cây lim xanh rờn trên núi Thạch trục nhưng lại nở hoa tím ngát rất thơ mộng. Miên nhớ đến câu thơ Kha ngâm trước khi xuống núi:

Tình ta thức trắng tinh cầu,

Hồn ta tím ngát một màu hoa lau.

Không khí ban mai lạnh toát! Chắc chắn, chắc chắn Kha có cảm thấy hơi ấm của người Miên truyền sang, vì cả hai cùng đưa mắt nhìn nhau mim cười bâng quơ. Miên lại thoáng nhơ tới tờ Pari Match với trang hình ảnh chụp những cặp tình nhân nằm dài ôm sát nhau trên bãi cỏ một vườn hoa Luân đôn. Nàng vẫn âm thầm khao khát tình yêu… Sự tuyệt vọng cam chịu làm gái già giữa một thế giới lang soi không còn… Nang đương đi sang một thế giới khác tuy nhiều nhơ bẩn nhưng còn tình yêu, nghĩa là còn hy vọng.

Con thuyền đã ra tới giữa sông lướt đều theo nhịp chèo… Chỉ còn một lát nữa là cập bến. Miên nhắm mắt lại, nàng tưởng tượng nếu thiu thiu ngủ nàng sẽ ngả đầu lên vai Kha…

Chợt có tia chớp! Tiếng vang ầm! Đạn xiết không khí vòng đỉnh đầu. Tiếp theo tiếng ầm thứ hai phía bên kia sông, vùng kháng chiến.

-Sao vậy?

-Cái gì thế?

-Trời ơi, ca nông địch!

-Chết rồi, có khổ tôi không!

Hai ba tiếng nổ liên tiếp. Vẫn tiếng đại bác.

Mọi người xôn xao…

Con thuyền tròng trành gần sát bờ…

Tiếng đại bác liên tiếp… rền rỉ, rền rỉ… không còn đếm được nữa.

IV

Tâm thần thảng thốt, chân tay rụng rời, tim hồi hộp, một sự chán nản, một sự tuyệt vọng mênh mông chưa từng thấy, choàn lấy cả tâm tư Miên thành một tấm vải liệm bi đát. Thuyền đã ghé sát bờ nhưng chưa ai lên, chưa ai muốn lên. Tiếng người lao xao dò hỏi tin tức, trao đổi ý kiến. Miên vẫn cúi gầm mặt. Kha đã đứng lên cùng Hiển chắc cũng chỉ để nghe ngóng. Dư luận kẻ dưới thuyền người trên bờ mỗi lúc một tới tấp lộn xộn nhưng đầy đủ mọi khía cạnh:

-Chúng nó ở Vân xa kéo lên chắc? (Vân xa, tên làng).

-Vân xa cóc gì, Vân xa cách đây mười cây số! Chúng nó ở ngay bến Nhông này này.

-Trời ơi!

-Bến Nhông là chỗ đầu cầu quân viễn chinh mà! Tự đấy chúng có thể đánh tỏa đi Hòa Bình, Phú Thọ, và nửa trên Vĩnh Yên. Chúng chiếm trọn mấy đồi lớn, xây bun-ke.

-Nhiều tây đen lắm!

-Đại bác yểm hộ thế là quân chúng tiến rồi đấy!

-Chúng định sang sông!

-Hẳn đi! Chiếm Phú Thọ đã sao?

-Làm sao bây giờ?

-Xuôi thuyền về đâu?

-Hãy xuôi thuyền đã, vì nhất định đại quân chúng sắp kéo qua đây. Đó, thấy chưa, tiếng súng con!

Người lái đò lúc đó mới phát biểu:

-Xuôi thuyền là phải! Đi sát bãi Kiều mộc tránh được làn đạn.

-Thuyền xuôi đi nhanh, tới chỗ nào xa tiếng súng chúng ta lên đê, tìm đường đi sâu vào các làng.

Tiếng Hiển hỏi lo lắng:

-Vậy chúng ta lại sang bên kia sông?

-Phải sang bên kia sông chứ!

Không muốn sang sông! Không muốn sang sông! Miên không muốn ba người phải sang sông lần nữa. Từ lúc biết anh sẽ đưa mình về vùng quốc gia Miên đã đoạn tuyệt với vùng Cộng sản rồi. Bước chân xuống thuyền, con thuyền dời đất Cộng sản, rồi sang bên này bờ sông, tuy mới chừng nửa giờ qua mà Miên tưởng chừng mươi mười lăm năm qua. Mươi mười lăm nam8q ua rồi, còn sang đất của cán bộ tạm cùng, của đấu tố đó làm gì? Tâm hồn Miên nhầu nát vì mảnh đất đó, rồi đây lại sang sông, lại lên đê, lại đi sâu vào miền đất đó, khác chi tự lột da mình làm giày mà đi?

Con thuyền bỗng tròng trành dữ.

-Trời ơi thuyền đông thế này rồi còn nhảy xuống làm gì?

-Ông lái cho xuôi thuyền đi thôi?

-Tất cả đồng ý xuôi thuyền chứ?

-Để tôi phụ cho tay sào nào.

Miên vẫn ngồi im bên Kha như tượng đá.

Kha đưa mắt nhìn bàn tay Miên. Bóng tối còn tràn đầy, không có ánh nhẫn saphir, nhưng ánh sao mai trước mắt lấp lánh.

Thuyền đã có đà, bắt đầu xuôi theo dòng nước. Miên nghe tiếng Hiển nói khẽ với Kha:

-Chúng mình không thể quay lại chỗ cũ để lấy giấy tờ!

-Không lo - tiếng Kha đáp khẽ - hay tin địch hành quân cả khoảng để bên kia sẽ không còn một bóng người!

-Xuôi thế này, liệu đến bến nào thì lên được, ông lái? - Hiển hỏi lớn.

-Ai mà đoán trước được! - Người lái đáp gọn!

Bình minh bắt đầu hé rạng. Mọi người nhíu lông mày nghe ngóng, chợt tiếng kêu hốt hoảng:

-Chết cha rồi, phi cơ!

Thuyền tròng trành rồi quay ngang mũi vì người bẻ lái đã buông tay để cùng nằm rạp xuống với mọi người. Chiếc phi cơ hạ thấp nghiêng cánh lượn vòng.

-Dakota! - tiếng Hiển.

Kha nói:

-B-26 thì nó bắn rồi!

Miên nhắm nghiền mắt nói thầm với lòng như lời cầu nguyện:

-Anh Hiển, anh chết thì còn giời đất nào nữa!

Chắc chiếc Dakota quan sát rõ thấy những người trên thuyền chỉ là thường dân, không phải bộ đội, nên ngược chiều bay thẳng về Phú Thọ.

-Hú vía! Nhanh tay lên nào!

-Đã chắc đâu thoát!

Thuyền xuôi. Trời sáng hẳn. Chiếc Dakota không quay trở lại. Xa dần… xa dần… tiếng súng đại bác, tiếng súng con. Nắng vàng tràn ngập dòng sông, tràn ngập bờ bãi, tràn ngập những làng mạc xa. Thuyền tiến dần tới khúc quành con sông có mấy chiếc thuyền khác đậu. Bến!

-Dừng lại đây được rồi! - Người lái nói.

Tiếng người lao xao trên bến hỏi tin tức.

Hiển hỏi khéo, giọng dịu dàng:

-Ông lái này, lên đê, theo đường thẳng xuống, đi đến đâu?

-Vĩnh yên! - Người lái đáp gọn.

-Còn cách chừng bao cây số nữa ông?

-Mười lăm cây! Nhưng chỉ đi bảy cây nữa là gặp đồn bảo chính đoàn.

-Những làng dưới vệ đê còn thuộc vùng kháng chiến không ông?

-Tề!

Miên thốt lời vui mừng:

-Tề rồi!

-Tề hai mang! - vẫn giọng cộc cằn của người lái - Trước khi lên bờ xin các ông bà cho thêm tiền.

V

Lên bờ đê nhìn xuống, cánh đồng Vĩnh Yên lấp lánh nước. Dưới đê có con đường khá rộng - chắc là đường liên huyện - giải đá cuội lớn, nhiều chỗ phá hoại, cuội đường dắp lên thành ụ lẫn với đất thịt màu đỏ kệch. Đường vắng tanh, hai bên cánh đồng vắng tanh. Ba người không ai bảo ai đều cầm đầu rảo bước. Lát sau tiếng Miên hổn hể:

-Sao đường vắng thế này, hai anh?

-Có thế chạy mới dễ - Kha đáp - Tôi biết trước mà, nghe tiếng súng dạo, thấy phi cơ lượn, công an và bộ đội du kích vùng tề hai mang này buộc lòng phải tạm lẩn đi.

-Đi nhanh hơn nữa các anh ạ! - Miên nói mà vẫn phải nửa đi nửa chạy mới theo kịp Hiển, Kha.

-Bảy cây số nữa đã gặp đồn bảo chính! - Kha đáp.

Ba người cắm đầu đi miết… đi miết…

Đã lác đác có bóng người trên đồng lúa xanh. Đó là những nông phu ra thăm đồng, vẻ thanh thản yên phận. Xa tít phấp phới bóng lá cờ vàng với những vạch đỏ. Con đường đá vòng sát vào bãi tha ma ven làng. Từ cổng làng gần đấy nhô ra một người, vai có vác súng, bận đồ kaki sẫm, mũ partisan rộng vành bằng thứ vải đỏ thì phải vì đồng màu. Thêm ba người nữa xuất hiện cũng ăn mặc như vậy, cũng đeo súng như vậy. Họ đi thành hàng dọc, đúng là lính bảo chính đi tuần. Đi ít thế hẳn đây đã an ninh rồi! Họ ra tới đường thì cũng vừa gặp bọn Hiển. Người đi đầu đã đứng tuổi, vạm vỡ, cánh tay trái đeo lon cai. Ông ta chăm chú ngắm Hiển, đôi mắt hóm hỉnh. Hiển tủm tỉm cười nhìn lại ông. Bỗng ông phá lên cười, vung tay phát lên mông Hiển một cái thân ái và nói:

-Các "cháu bác Hồ" phải không? Sao về muộn thế?

Cả bốn người lính cùng cười theo, vừa cười vừa đề bước xuống đồng sang làng gần đấy.

Miên thở phào nhẹ nhõm. Lúc đó vào khoảng tám giờ rưỡi sáng, một buổi sáng đẹp, mặt trời lên, gặp đám mây trắng lộng che khuất khiến ánh sáng đây đó dịu và bâng khuâng. Con đường trước mắt không còn những mô cao hoặc những hố phá hoại, con đường trước mắt giờ đây phẳng tắp, bụi cát trắng xóa hai bên lề cỏ, dưới đường là ruộng lúa con gái lấp lánh nước. Nhìn kỹ khoảng nước ven đường, Miên thấy có những con đòng đòng lượn lờ lững. Vài con châu chấu nhảy chuyền sang những ngọn lúa khác gần đấy, trong số có con cào cào xòe bay một quãng khá xa như để làm đỏm khoe với khách qua đường bộ cánh xanh đỏ.

Cào cào giã gạo tao xem,

Tao may áo đỏ áo đen cho mày.

Dù cành đồng này - Miên nghĩ thầm - có biến thành cả khu rừng lau khô xác đi nữa thì giờ đây, trên đường đời, có những ba bóng người!

Bớt cô quạnh!

DOÃN QUỐC SỸ

_________________
I stand with Ukraine

Cầu nguyện cho Ukraine
LDN

LDN


Back to top Go down

Thumb up Re: Khu rừng lau - Doãn Quốc Sĩ

Post by LDN Sat May 07, 2022 4:28 pm

Cuốn 2:

Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến 

PHẦN MỘT CHƯƠNG 1 TIẾNG HÁT TỰ LÒNG ĐẤT KHU RỪNG GIÀ

Hình ảnh lá cờ vàng ba gạch đỏ phe phẩy thanh bình vẫy gió còn mãi mãi về sau này in hằn trong tâm tưởng Miên một ấn tượng của thịnh vượng và của tình người. (Ôi, còn được sống trong tình người, nàng thách thức mọi gian lao!) Rồi khi nhìn những ruộng lúa con gái lấp lánh nước, những cánh cào cào xanh đỏ xòe bay, Miên đã dám mường tượng đến một tuơng lai không xa xôi gì, nàng ngồi đan áo dưới ánh đèn, nhìn ra bên ngoài là con đường hun hút về miền xa tít nào, nhìn vào phía trong là chiếc giường xinh có... Kha nằm đọc sách, Miên mường tượng đến mâm cơm đơn giản nhưng ngon lành do tay nàng sửa soạn, đến bộ chén tách sạch bóng nàng bày trên bàn trà...

Trên trời khối mây trắng chuyển dịch nhẹ, mặt trời chui dần vào một khối mây đen lớn ùn lên như núi, ánh sáng đương bâng khuâng lồng lộng bỗng tối hẳn, thoạt tối xầm nhưng sau đó vài ba tia sáng thấm qua được kẽ mây mỏng khiến con đường Miên đương dẫn đầu cùng cả vùng ruộng lúa bao quanh nàng bỗng rưng rưng một thứ ánh sáng u hoài. Miên chợt thấy nhớ Kha vô cùng, nhớ như hai người đã thành vợ chồng và đương bị giang sơn cách trở. Nàng muốn quay lại để được thấy mặt Kha mà không dám. Nàng chậm bước một chút thì Hiển, Kha cũng chậm lại theo, nàng đành như người mù nghiêng tai lắng tìm ánh sáng tiếng chân thân yêu, nhưng chẳng hiểu sao, cả Hiển lẫn Kha cùng bước quá nhẹ, nên chỉ những tiếng chân phía sau đó nhòa đi trong tiếng chân nàng.

- Có nên dừng lại đây một chút không? - Hiển hỏi.

- Đồng ý - Kha đáp vội vã.

- Em cũng đồng ý lắm - Miên nói sau cùng và quay lại nhìn Kha, Hiển.

Đó là một cái quán bên đường, cách đồn Bảo - chính phất phới ngọn cờ quốc gia không bao xa. Họ cần phải nghỉ để xả hơi. Đôi gò má Miên hồng lên, vừng trán hiền lành của nàng lấp lánh mồ hôi. Trong quán khi đó chỉ có một bà già bán hàng và một người lính Bảo Chính, người lính này hầu như cũng chẳng thèm để chú ý đến bọn Miên, Hiển, Kha, mặc dầu ba người vừa bước chân vào, anh có ngẩng lên nhìn. Ba người ngồi xuống ghế dài lật ba chiếc bát đàn gọi ba bát nước chè tươi và một đĩa kẹo vừng. Hướng quán nhìn về cánh đồng rộng bên kia đường, một màu xanh mênh mông, làn gió dìu dịu từ khoảng đại dương cẩm thạch đó lùa vào như có thần lực làm tiêu tan mọi lo âu cực nhọc trong lòng ba người.

Bà chủ quán - ý chừng tiếp tục câu chuyện bỏ dở - cất giọng thân mật hỏi người lính Bảo Chính:

- Thế mới rồi cậu về nghỉ phép mười lăm ngày có gì lạ không?

Người lính lơ đãng chép miệng thở dài:

- Chẳng có gì lạ bà ạ (anh lại chép miệng) có con bé Dung đẹp nhất làng lấy thằng Dật mới lên cai xếp, tôi chẳng thiết về nữa.

Thấy Kha mỉm cười kín đáo, bất giác Miên cũng mỉm cười theo, mỉm cười cho thái độ chất phác về tình yêu của chàng trai miền quê đi lính Bảo chính.

- Thế ông cụ vẫn khoẻ mạnh - bà quán hỏi tiếp - năm ngoái tôi về qua làng, thấy cụ còn khoẻ mạnh lắm.

Lần này chàng trai chép miệng một cách hài hước:

- Ôi chao, ông cụ nhát quá bà ạ, lần trước về thăm nhà tôi có biếu cụ chiếc đèn pin, lần này về, tôi hỏi chiếc đèn pin đâu, cụ bảo "tao phải ghè đập ngay tối hôm đầu rồi." hỏi "Sao", cụ bảo: "nhà gấn bốt, thằng bé cháu (con anh trưởng) cứ mang đèn ra bấm lập lòe nhỡ ngứa mắt nó câu cho mấy phát moóc chê, chẳng phải đầu phải tai!" Bà bảo cụ tôi nói thế có chán không?

Rồi như để cho quên bực dọc, anh với một chai bia độc nhất trong đám mấy chai li mô nát xếp trên cao, ghé răng mở nút bia. Đúng vào lúc đó, Miên kín đáo ngắm khuôn mặt đen xạm của anh: đôi má hơi hóp, lưỡng quyền cao, quai hàm bạnh răng nanh bịt vàng, cả hàm răng ám khói thuốc, khuôn mặt liều lĩnh mà thực thà. Anh thổi chiếc nút bia ra xa ngoài cửa, rồi ngửa cổ tu ừng ực. Có chiếc xe đạp vừa lướt qua quán tiến về phía tỉnh, một người đàn ông tóc chải mượt đèo một cô mũm mĩm áo màu quần trắng. Anh lính Bảo chính ngửa cổ tu đến lần thứ hai thì chai bia đã vơi quá nửa, anh quả thực đương muốn phá " sầu thành "bằng rượu bia. Anh ngửa cổ tu gấp một lần nữa vì thoáng có tiếng động cơ nổ đằng sau. Trên con đường liên huyện bụi tung trắng xóa như vôi bột, một chiếc xe Dodge 4 phăng phăng tiến lại như con tuấn mã coi khinh quãng đường không chút hiểm trở.

- "Xếp" của tôi đã tới!" - người lính Bảo chính nói cùng lúc với tiếng phang rít bên ngoài, và một thanh niên sĩ quan to lớn có để ria mép thò đầu ra nói lớn, giọng thân mật:

- Ê, chú mày, công việc xong rồi chứ? Lên!

Người lính Bảo chính vừa "dạ dạ" vừa nhảy lên liền phía sau, chợt người sĩ quan nhíu lông mày, chăm chú nhìn Kha hơn nữa rồi quát, vẫn bằng giọng thân mật:

- Có phải thằng Kha đấy không?

Từ lúc chiếc Dodge4 dừng lại, Kha vẫn không hề chú ý đến ai, nghe tiếng hỏi, chàng giật mình ngẩng lên, đôi mắt tròn xoe miệng há rồi lập tức chuyển thành nụ cười sáng ngời hân hoan:

- Luận! Trời, cậu đóng quan mấy rồi?

- Hà hà, suýt đóng quan sáu! Cách đây ba ngày, trong một chiến dịch càn quét, tao bị phục kích.

- Mình và mấy người bạn kia (Kha chỉ Hiển và Miên) vừa chân ướt chân ráo hồi cư đến đây chưa biết phải trình diện và xin giấy má tạm thời ở đâu.

- Giấy má mẹ gì, lên đây theo tao.

Luận nhảy xuống, bảo người lính lái xe ngồi xuống dưới, khẽ cúi chào Miên, Hiển (chào lấy lệ, chẳng lẽ lại không chào) rồi nói luôn với Kha:

- Xin cứ lên xe tất cả, rồi đâu có đó.

Nói dứt, Luận nhảy lên ngồi trước tay lái, Kha đã trả tiền bà quán và nói vắn tắt mấy lời về lý lịch của Luận cho Hiển, Miên hay:

- Cha này trước ở ban kịch Tháng tám (ban kịch thành lập sau ngày cách mạng 19 - Cool có tản cư ít lâu, rồi vào thành.

Kha lên xe, ngồi ngay bên tay mặt Luận, hỏi:

- Sao cậu lại vào nghề lính?

Luận đã vào số cho xe chạy lẹ, dáng rất thành thạo đáp:

- Chó nó thích vào lính cho Tây. tao lẩn, nhưng lần thứ ba nó tóm ngay tại nhà, lôi sềnh sệch xuống Nam Định theo học lớp sĩ quan chín tháng ở đó.

Ngưng một chút, Luận hỏi:

- Sao đương ở ngoài đó lại về?

- Cậu còn hỏi câu đó à?

Luận cười.

Phía sau xe có Hiển, Miên, người lính Bảo chính tài xế, người lính thất tình (ở quán), và hai bà cùng đứng tuổi vốn là hai bà chủ thầu các đồ vặt vãnh cho nhà binh. Thâm tâm hai bà cũng coi khinh vẻ ăn mặc tiều tụy của hai anh em Hiển, Miên, tuy nhiên để tỏ ra mình là hạng người lịch thiệp, hai bà cũng có dịu đôi mắt nhìn: khi hai anh em khom lưng bước vào và khi Hiển, Miên cúi chào thì hai bà cũng khẽ cúi đầu đáp lại, sau đó mới tiếp tục câu chuyện đương dở dang. Đây hẳn cũng là buổi đầu hai bà gặp nhau, hai bà đang khoe sự sung túc ở miền quê của riêng bà.

- Nhà tôi vườn ao trước; đánh cá, chúng tôi chỉ ăn cá chắm, cá chép thôi bà ạ, cá mè thì cho người làng (bà làm điệu nói vói người làng) lấy về mà ăn đi, nhà tôi không ăn cá này đâu, mang về mà ăn đi, nhà này không có bán!

- Nhà tôi bà ạ - bà kia tiếp - lò than lúc nào cũng hồng. Khách đến nhà, nhổ mấy củ xu hào, con gà chỉ kịp kêu đến "quéc" một cái là đã luộc ở trong nồi rồi. gạo tám thơm, gạo rự, gạo ré cánh... chẳng thiếu thứ gì.

Xe đến chỗ quành, Luận không hãm bớt tốc lực, mọi người mất thăng bằng, xô về một chiều. Lời đàm thoại của hai bà thích ứng ngay với hoàn cảnh:

- Gớm, như đi máy bay!

- Ấy thưa bà, trên máy bay được cái người ta còn có giây da buộc lấy mình như thế này này ạ. (bà làm điệu giây da quấn ngang bụng).

Tiếng Kha reo vui hỏi Luận:

- Ồ kìa, loại xe gì mà kỳ lạ vậy?

- Mày thật là mán rừng, loại xe vespa của Ý đấy! - Luận đáp.

- Xe nhỏ mà chạy lẹ quá, trông thanh nhã chứ không hùng hồn như loại xe mô tô cũ.

- Vespa, tiếng ý là con ong, mày chú ý xem nhìn chiếc xe hao hao giống con ong.

- Ờ nhỉ.

- Loại xe này giờ đây phổ thông lắm, họ cho thuê sáu mươi đồng một giờ.

Luận bỗng phang "kít" cho xe đỗ trước một đồn binh rồi bảo Kha:

- Để tao vào gặp thằng trưởng đồn lê dương ở đây một chút.

Hiển và Miên cũng thò đầu ra nhìn. Đây là một đồn binh ở ngoài tỉnh lỵ Vĩnh Yên. Những bao cát xếp cao quanh lỗ châu mai trước đồn, thấp thoáng có bóng người lính gác bên trong. Một toán tù binh khác, cứ hai người một, khiêng thùng phân đi đổ. Mấy tên lính Tây đội ca lô xanh (mũ lê dương) đương chỉ trỏ ra lệnh cho tù binh, một tên nói gì với thầy đội thông ngôn đứng gần đấy, thày cười cầu tài và gật đầu lia lịa. Cách đồn binh một đường hẻm nhỏ, bắt đầu có nhà thường dân. Ánh nắng đã chói chang, đống rác lớn gần tiệm ăn tỏa hơi nồng nặc hòa với mùi rãnh nước đen ngòm chảy ri rỉ từ cửa tiệm ăn ra cống lớn, một đứa trẻ trần truồng ngồi bĩnh gần đấy.

Luận đã trở ra và cho xe chạy rẻ theo đường vào tỉnh lỵ, xe cộ đủ loại xuất hiện: xe bò; xích lô, xe đạp, vélo solex, vespa, ô tô hàng … và đã thấy thấp thoáng nhiều bóng áo màu, quần trắng của các thiếu nữ con nhà khá giả. Hai người lính được lệnh Luận cho xuống đồn trước (đồn này do Luận chỉ huy và đóng sát tòa tỉnh trưởng), hai bà chủ thầu xuống khoảng gần chợ; khi chỉ còn bọn Hiển, Kha, Miên trên xe, Luân mới quay xuống nói với tất cả.

- Tôi sẽ đưa các bác đến một gia đình người quen, sớm mai tôi sẽ đích thân đưa các bác ra bến xe về Hà Nội. Khi tới Gia Lâm các bác nhớ xuống trình diện với ty Công An, xin giấy thông hành tạm thời, rồi tìm người thân làm chứng bảo đảm để được cấp thẻ căn cước. Như vậy là «chu» rồi, các bác khỏi phải đến trình diện tại ty Công An ở đây để rồi bị giữ lại qua đêm như tù.

Kha nói mấy lời cám ơn Luận, nhưng Luận hầu như bỏ ngoài tai mấy lời khách sáo đó, và tiếp tục câu chuyện vói riêng Kha:

- Thằng cha Trưởng Ty trước làm ở bên Kiểm Tục, dùng thuốc cường dương như cơm bữa; qua đêm ở đấy, em gái mày có thể bị nguy (Luận tưởng Miên là em gái Kha), mày nên nhớ ở tỉnh nhỏ thì Kiểm Tục, Công An, Hiến Binh là vua, đó là Dịch hạch, Dịch tả và Thương hàn, mấy hôm trước đây tao mới chửi cho chúng nó một trận.

Luận cho xe chạy dọc theo phố chợ, rồi rẽ vào một đường phố khác, hai bên là nhà ở chứ không phải là cửa hàng. Chiếc Dodge4 còn rẽ vào một đường phố hẹp nữa, không khí yên tĩnh như giữa miền quê dừng lại trước một căn nhà có hàng rào duối gai trước cửa, một chút sân rải đá cuội phía trước, vây xung quanh có cây ăn quả mới lớn, trông còn khẳng khiu lắm. Luận đưa Hiển, Kha, Miên vào giới thiệu với cụ chủ nhà trạc sáu mươi tuổi, xin cụ cho ở nhờ đến sớm mai sẽ ra xe hàng hồi cư về Hà Nội. Cụ vui vẻ nhận lời, giới thiệu Miên vói cô con dâu đứng gần đấy: người con trai vừa đi chơi quanh lối xóm về, cụ giới thiệu với Hiển, Kha. Những người đàn ông bắt tay nhau hỉ hả. Luận to béo bao nhiêu thì Đản (tên người con trai cụ chủ) gầy nhom bấy nhiêu, nhất là mái tóc anh lại cố tình để dài, nghệ sĩ. Thấy tay anh cầm quyển Tản Đà vận văn, Luận nói giỡn thân mật:

- Thời đại nguyên tử rồi mà còn đọc kinh Thi! (Ý Luận chỉ muốn nói là đọc thơ).

Lập tức Đản giơ tay lên vuốt mái tóc dài, nước da trắng trên khuôn mặt gầy càng xanh lướt thêm để phản đối và anh đáp:

- Ô hay, chính bom nguyên tử được làm ra để bảo vệ Kinh Thi chứ.

Cụ chủ xếp cho bọn Hiển lên ở căn gác xép, phía sau. Dưới bếp gia nhân đương bận rộn làm gà, thái xu hào, cà rốt. Cụ chủ nói với Luận:

- Chả hôm nay nhà tôi có kỵ, chiều mời trung úy bớt chút thì giờ đến sơi cơm với chúng tôi.

- Dạ cám ơn cụ, nếu có thì giờ thế nào cháu cũng lại - Luận đáp.

Một năm trước đây, cô con gái mười chín xuân xanh của cụ lọt vào cặp mắt diều hâu cú vọ của tên trưởng ty Kiểm Tục (mà hiện là trưởng ty Công An). Ngày đó Luận cũng vừa được cử đến đóng đồn ở đây, ngẫu nhiên gặp ông cụ đứng trước cửa, đôi bên bắt chuyện, ông cụ kể lại sự tình, Luận nổi cơn anh hùng "giữa đường thấy sự bất bằng mà tha ", đến gặp phăng tên trưởng ty Kiểm Tục, báo cho hắn biết người con gái mười chín tuổi kia là em nuôi của Luận. Cô gái thoát, năm sau lấy chồng, Luận được gia đình này coi như ân nhân. Đản cũng mới lấy vợ được hai tháng nay.

Luận từ biệt mọi người trở về đồn và giao hẹn chiều sẽ lại. Kha, Hiển, Miên lần lượt vào buồng tắm. Họ định tắm xong thì thủng thẳng ra chợ ăn trưa, nhưng cụ chủ đã kêu dọn cơm và mời cả ba lên ngồi cùng bàn, từ chối làm sao cũng không được. Điều Miên còn nhớ trong bữa cơm đầu tiên miền quốc gia đó là mặc dầu đã cố giữ ý mà ba người vẫn ăn nhanh và ăn khoẻ nhất, đúng tác phong kháng chiến! Tắm rửa xong thay bộ đồ mới sạch sẽ (tuy vẫn nâu sồng) trông họ không đến nỗi nào.

Sau bữa ăn, Đản nói chuyện với Hiển, Kha, Uyển, vợ Đản, thủ thỉ nói chuyện với Miên ở góc hiên. Đàn bà làm quen nhau hơi chậm, nhưng khi đã quen thì tâm sự liền. Thì ra Đản và vợ đương giận nhau. Đản hiện làm thư ký tại một quận cách tỉnh lỵ hai mươi nhăm cây số. Quận lỵ này có hai thư ký, hai người thỏa thuận dàn xếp với sự ưng ý thông cảm của quận trưởng là mỗi người trong một tuần có thể về với gia đình được ba ngày, Đản về vào những ngày thứ sáu, thứ bảy và chủ nhật. cặp vợ chồng mới này âu yếm nhau lắm. Thứ sáu vừa rồi, về tới nhà, Đản thấy vợ từ buồng tắm ra, đã mặc coóc sê nhưng chưa mặc áo, chỉ khoác ngoài có chiếc khăn bông lớn, chàng bất bình nói mỉa: " Mới đi vắng có bốn ngày mà đã ăn mặc hở hang thế, đi vắng hàng tháng có lẽ khỏa thân mất ", tức thì Uyển công phẫn đáp lại cũng có đôi phần trắng trợn. Thế là hai vợ chồng giận mát nhau. Hai ngày qua rồi, chỉ còn một hôm nữa thôi ( mai thứ hai Đản đã phải đến quận lỵ). Ngắm thân thể đẫy đà của vợ Đản, Miên mỉm cười nghĩ thầm: " Rồi tất đêm nay hai anh chị phải làm lành nhau."

Mãi tới một giờ, những người bạn trẻ mới giải tán để đi ngủ trưa một tí. Miên nằm trên giường nhỏ, Hiển và Kha trải chiếu xuống sàn vào một góc, Miên đã chợp ngủ, nàng mệt lắm rồi, nàng không ngờ khi Kha cũng đã ngáy khẽ, Hiển còn lắng nghe Đản từ một căn phòng bên dưới rền rỉ ngâm bài "Cảm thu tiễn thu" của Tản Đà:

Từ vào thu đến nay.

Gió thu hiu hắt,

Sương thu lạnh,

Trăng thu bạch,

Khói thu xây thành

Lá thu rơi rụng đầu gềnh

Sông thu đưa lá bao nghành biệt ly.

Hiển nghe mà rùng mình, chàng nhớ lại thuở thịnh thời của thực dân, nhớ lại hình ảnh cô đầm hãnh tiến rượt đuổi người thanh niên Việt ở trước rạp Eden. Chàng mường tượng những cảnh tù đày ở Côn Lôn, Lao Bão lẫn lộn với những cảnh thanh niên trụy lạc ở Khâm Thiên, ở ngõ Sâm Công, rồi những cảnh làm đĩ, những cảnh người ngoại quốc nhìn người Việt bằng con mắt miệt thị, những cảnh trí óc thông minh Việt Nam đã không được sử dụng, mà còn bị hạn chế để đến nỗi kẻ biết lái xe tăng được coi như một kỳ tài quái kiệt, chàng nghĩ đến cảnh đời trống rỗng, người xót thương cho dân tộc chỉ còn biết kêu than tiêu cực: nhạc "Giọt mưa thu" của Đặng Thế Phong, thơ "Cảm thu tiễn thu" của Tản Đà; chàng nghĩ đến những ngày hè oi ả, tiếng ve kêu inh ỏi dưới hai hàng me hay hai hàng phượng vĩ hoa đỏ rực báo mùa thi, than ôi thi cử mà làm gì, nhà trường sản xuất ra những kẻ hiên ngang thì mất đầu như Nguyễn Thái Học, Ký Con, những hạng tầm thường "phi cao đẳng bất thành phu phụ" thì gác tía lầu son.

II

Bốn giờ chiều, Luận đến sớm ngỏ ý đón Hiển, Kha, Miên để đưa đi một vòng qua các phố tỉnh lỵ gọi là "xem tình hình quốc gia". Miên từ chối khéo, nàng ở lại, xuống bếp giúp Uyển sắp đặt các đồ nấu nướng. Lên xe Dodge 4, cả ba người đàn ông cùng ngồi trên, Kha ngồi giữa ngay sát bên tay mặt Luận, Hiển lơ đãng nhìn cảnh sinh hoạt của dân chúng hai bên lề phố, trong khi Luận huyên thuyên nói về chuyện vợ con của chính anh:

- Thật tình moa coi en (elle) như vợ chính thức rồi, cần chó gì phải giá thú giá thiếc, nhưng moa vừa đi opération (công tác) nửa tháng về, elle đã ngoại tình. Mà với ai? Với thằng bạn thân của mình mới chó chứ.

- Cậu có đánh thằng bạn? Kha hỏi.

- Ấy mình cũng định thế, thằng cha đó cran (gan) lắm, nó nói với moa, chính vợ mày tấn công tao trước, mày về cảnh cáo nó thì hơn". Lần đầu moa tha thứ, moa chỉ vào elle giao hẹn: "Tôi báo cho cô biết là tôi bỏ qua chuyện trở về trước, nhưng từ nay trở về sau, cô phải ngừng lập tức cái trò bỉ ổi ấy!" Lần sau moa đi opéraration, elle lại chứng nào tật ấy; sau bữa ăn tối, moa lẵng lặng bước vào phòng elle như thường lệ, dừng lại trước mặt elle, mím chặt môi, đứng nghiêng người về phía bên phải, phóng một quả đấm thôi sơn vào đúng quai hàm, elle lộn đi mấy vòng trên chiếc giường rồng rồi ngã xấp xuống đất. Elle gan lắm, không khóc một tiếng trừ tiếng kêu thất thanh duy nhất lúc thoạt đầu, rồi xếp va li đi ngay, hôm sau chiếu điện thấy có một fêlure ( rạn nứt) ở khoảng đó.

Kể dứt câu chuyện một cách rất tự nhiên, coi như Kha đã biết elle là ai rồi, Luận cất tiếng hát một bản tình ca than cho duyên kiếp bẽ bàng, giọng trầm buồn rất đỗi thương cảm, chính Kha cũng không ngờ con người có giọng ca nghệ sĩ ấy lại cũng là con người vũ phu của thế đứng "nghiêng mình bên phải" và "phóng một quả thôi sơn" lên quai hàm người đẹp. Giọng hát trầm buồn bỗng ngừng bặt, tốc độ xe giảm hẳn, tiếng Luận hốt hoảng cùng với tiếng kèn kẹt của cần sang số:

- Bỏ cha tôi rồi, đồ giả;

Kha ngơ ngác hỏi:

- Giả gì kia?

- Mày trông con bé đứng trước cửa, bên tay mặt mày:

- Cô giáo tiểu học mới đổi tới đấy. Sáng nay tao gặp elle đi lễ chùa, ngực thế này (Luận phác một vòng trước ngực mình), mà bây giờ trong elle mặc áo cánh đứng trước cửa, ngực lép xẹp. Của giả rồi! Đau thế!

Xe chạy nhanh dần và giọng hát trầm buồn của Luận lại nổi lên, Kha nghe mà có cảm giác Luận đương đặt cả cuộc đời mình lên chiếu bạc ván chót và biết mình thua nên thả cho đời tan trước vào tiếng hát đó.

Từ lúc lên xe, Hiển vẫn cúi đầu suy tư, đôi khi chàng có mỉm cười, hoặc cười thành tiếng khẽ góp vào câu chuyện của Luận, nhưng rõ là chỉ có tính cách xã giao thôi.

Luận bỗng bẻ quặt tay lái. Hiển xô vào Kha và cả hai xô vào cánh tay "hải tặc" của Luận. Xe vút về phía trước, chồm lên, tiếng phang rít, tiếng Kha ngạc nhiên:

- Ồ đã đến nhà này!

Thì ra trên đường về, Luận cho xe chạy quành ngả khác đi vào một đường hẹp nhưng vắng và khi xe nhô khỏi đường hẹp đó chỉ quặt ngoẹo sang tay trái một chút là tới nhà.

Khách đã lác đác đến, trong nhà đèn nến sáng choang, không khí tấp nập nhưng nghiêm nghỉnh. Ba người bạn trẻ lén thẳng lên gác xép để đứng ngồi thoải mái. Kha lục ba lô tìm cuốn sổ tay. Đã từ lâu chàng có thói quen ghi chép những cảm nghĩ.

Tiếng Luận:

- Kha này!

- Gì?

- Mày còn nhớ dạo chúng mình đóng kịch?

- Còn.

- Dạo đó chúng mình trẻ quá nhỉ?

- Ừ.

- Thời đó tao theo riết em nào, em đó phải chết. Đủ mánh lới. Rồi khi đã "biết" em hai ba lần rồi, a lê hấp, đá! Giờ đây trong nét mặt mày còn đẹp, mày còn giữ được vẻ cao thon, thì thì "xí" trai quá rồi, bụng thấy một ngày một to, đít một ngày một xệ xuống.

Kha, Hiển cùng bật cười. Kha nói:

- Cậu cứ nói vậy chứ trông costaud như cậu con gái nó mới dễ mê.

Luận vung tay ý muốn tìm lới phản đối, tay chàng quơ xuống chiếu đụng phải tập giấy có bìa ngoài mà Kha sắp xếp vào ba lô. Chiếc bìa tung ra, Luận nhìn vào và reo:

- A, mày làm thơ đấy à?

Kha chặc lưỡi:

- Thôi đôi khi buồn, làm chút ít.

Luận đọc, chăm chú đọc, vỗ đùi đen đét:

- Được, được lắm! tao cũng làm thơ đấy nhé, viết cả truyện ngắn nữa, vẫn đăng đều ờ tờ Quân Đội, bán nguyệt san của Nha Chiến Tranh Tâm Lý.

- Giỏi đấy!

- Để tao giữ tập thơ này của mày rồi cho đăng dần vào bán nguyệt san Quân Đội và một vài tờ civil khác tao quen.

- Cũng được, miễn là bố đừng đánh mất của con, và cũng chỉ nên lấy một số ít thôi, bao giờ đăng hết hãy lấy sau.

- Cậu về Hà Nội đã biết sẽ ở địa chỉ nào chưa?

Hiển đỡ lời Kha:

- Chúng tôi sẽ ở nhà số 78 phố Chợ Hôm, anh ghi cho để nếu tiện dịp mời anh tới liên lạc với chúng tôi cho vui.

Luận giữ chừng chục bài thơ và ghi địa chỉ trên vào sổ tay, Kha cất tập thơ còn lại vào ba lô.

Hiển ra nằm khoèo trên chiếc chiếu giải ở góc nhà. Luận nói với Kha:

- Tụi nhà văn trong báo Quân Đội già có, trẻ có. Tụi trẻ vào đấy để tránh ra trận chết cho thực dân, nếu tao gặp chúng trước thì giờ này cũng đã ở trong ban biên tập đó rồi. Tuy thế nhưng khi lâm trận mới thấy rằng mình chẳng bao giờ chết cho thực dân hết, mình hết để xây dựng một cái gì …. một cái gì tốt đẹp và bền vững cho đất nước. Có lẽ vì đã từng ra trận và trực tiếp linh cảm thấy cái gì tốt đẹp và bền vững ấy nên đôi khi nhàn rỗi tao đâm ra tí toáy muốn làm thơ, làm văn. Cũng không đến nỗi dở đâu, để rồi có dịp tao gửi đến cho mày những tờ báo đó.

Suy nghĩ một phút Luận tiếp:

- Tao ưng tập thơ này của mày lắm, đó là tập thơ đầu tay chứ gì. Trong văn chương tao tin và yêu những tác phẩm đầu tay vì đây là tiếng nói tinh khiết nhất của tình cảm ban dầu, càng những tác phẩm về sau ngoài bút càng … điếm đi (Luận cất tiếng cười lớn). Đúng thế, người ta thì bảo là "già giặn hơn", tao thì cho là "điếm hơn", vẫn những tình cảm cũ nhưng nặng về kỹ thuật để dễ ngụy trang, làm ra vẻ mới lạ, nhiều khi tác phẩm chỉ thuần túy là vấn đề kỹ thuật! Cho nên tự rút kinh nghiệm, với bất cứ tác giả nào quốc tế hay quốc nội tao cũng chỉ đọc ba bốn tác phẩm đầu, còn thì …(Luận làm điệu bằng tay) lướt, lướt!

Kha cười chậc lưỡi:

- Cũng có lý!

- Thế còn mày - Luận hỏi – Mày viết lách vào trường hợp nào, nhớ không?

Kha mím chặt môi, cười mỉm, ngước nhìn. Hình ảnh Vân thoáng trong trí chàng. Suốt trong mấy tháng đầu, cuộc kháng chiến sục sôi trong bầu không khí căm hờn quân thực dân cướp nước, Kha hoàn toàn quên Vân. Nhưng khi trung đoàn Thủ Đô đã tản lên miền Trung du, cuộc kháng chiến mở rộng trong không gian và nhuốm màu sắc trường kỷ trong thời gian, thì lòng người kháng chiến cũng phải giữ cho nó chừng mực để mà trường kỷ chiến đấu, hình ảnh Vân lúc đó trở lại thân yêu hơn bao giờ hết.

Luận nhắc lại câu hỏi:

- Sao, mày viết lách vào trường hợp nào, nhớ không?

- Kháng chiến được khoảng một năm thì ông Hồ có dịp làm một bài thơ khuyến khích nhân dân:

Ngành ngành thi đua

Người người thi đua

Ta nhất định thắng

Địch nhất định thua

Đọc xong bài thơ trên, mình chỉ hơi nhíu lông mày nghĩ thầm: "Thơ đếch gì thơ thế! " Tuy nhiên dạo đó mình còn quý ông Hồ, nên chỉ phản ứng bằng cách làm một bài thơ trữ tình nói về tình người mẹ cày cấy ở cánh đồng nhà nhớ người con ra đi diệt giặc, cầu chúc cho giặc chóng tan và con được yên lành trở về, đó là bài thơ số một cậu giữ. Bài thơ viết xong mình cất vào đáy ba lô.

Nửa tháng sau, một nhà phê bình văn học của Đảng hết lời ca ngợi bài thơ trên của ông Hồ và đề cao ông là "đệ nhất thi sĩ của thời đại", làm mình phát bẳn lên: " Ừ, gọi là bài thơ để phổ thông trong nhân dân thì được, nhưng vì bài thơ đó mà nâng ông Hồ lên là đệ nhất thi sĩ bợ đỡ như vậy chó nó cũng không ngửi được". Uất ức, mình phản ứng bằng một bài thơ trữ tình thứ hai và khi chép xong cẩn thận mình lại cất xuống đáy ba lô. Sau đó ông Hồ thỉnh thoảng vẫn làm thơ và lần nào mình cũng phản ứng lại bằng một bài thơ trữ tình chép xong cất vào ba lô. Chẳng bao lâu đáy ba lô trữ được một tập thơ khá dầy, vì qua mấy lần đầu phản ứng mà làm thơ, nhưng rồi nguồn thơ ở mình đã được nguồn thơ của "đệ nhất thi sĩ" gián tiếp khai phá nên chỉ thỉnh thoảng hứng cảnh sinh tình mình tự động sáng tác lấy. Bề ngoài mình vẫn đi khai hội, kiểm thảo với các "đồng chí" nhưng bên trong là cả một thế giới trữ tình riêng.

Đôi mắt Kha càng dõi về phía xa qua khung cửa sổ, bên ngoài trời đã về chiều. Kha nhớ lại thứ hoa cúc dại có đầy rẫy ở quê nhà. Kha nhớ lại hình ảnh Vân đã có lần hiện lên trong một giấc mơ làm nhòa nhưng cụm hoa vàng. Kha tiếp trong khi Luận như bị thôi miên bởi dáng điệu kể chuyện của Kha:

- Một lần có anh bạn "đồng chí" vỗ vào ba lô hỏi: "đựng những gì mà dầy cộm thế này?" Mình đã đáp lại rất bâng quơ: "Ừ nhỉ, người trìu mến những gì xếp ở đáy ba lô? Đáy ba lô cũng là đáy lòng!"

III

Khách đến ăn giỗ đã đông đủ, nhưng thể theo lời yêu cầu của bọn Hiển (và của Luận nữa) cụ chủ nhà ưng để đám bạn trẻ đó quây quần ăn với nhau trên gác xép. Khi mọi người vừa ngồi xuống quanh mâm cỗ thì có tiếng radio vọng lên tự căn phòng vợ chồng Đản dưới nhà: nữ danh ca Thùy Trang đương cất giọng não nùng. Vợ Đản vùng đứng dậy như bị điện giật, tiến ra phía cửa sổ ngó xuống, nhận thấy đó là thằng cháu họ, chừng mười lăm tuổi, tự ý vào buồng vặn radio, nàng bước rầm rầm xuống thang, vút một cái tới phòng, tắt nghiến radio cho tiếng Thùy Trang câm bặt. Kha và Miên cùng chú ý thấy Đản hơi mỉm cười đượm chút kiêu hãnh, bàn tay gầy và trắng xanh của anh khẽ đưa lên vuốt mớ tóc dài, và mãi tời khi nghe tiếng bước chân vợ dồn dập trở lên, anh mới kín đáo nói khẽ với mọi người:

- Bà đầm tôi nhất định không bao giờ cho tôi nghe Thùy Trang.

(Khi còn là người yêu của Đản, biết anh thích nghe Thùy Trang hát, Uyển mếch lòng nhưng chưa tiện nói ra. Là vợ Đản rồi, mỗi khi Đản mở radio đón nghe Thùy Trang, Uyển thoạt vùng vằng nện guốc ầm ĩ trong phòng để phá đám, rồi khóc, sau cùng nàng quyết liệt tắt radio).

Miên không rõ những chi tiết trên đây, nhưng thấy Uyển biểu lộ lòng ghen như thế nàng tin rồi đêm nay đôi vợ chồng đó sẽ làm lành nhau và Miên thấy trong lòng vui vui.

Từ lúc đi vào miền quốc gia, nét mặt Hiển vẫn buồn buồn đôi mắt thường cúi xuống trầm lặng; trái lại Kha cũng như Miên lòng tràn đầy hân hoan, nghe ngắm hết điều này đến việc nọ, nhường như gặp cái hay thì họ vui, gặp cái dở thì họ cố tìm ra khía cạnh ngộ nghĩnh để tha thứ.

Tối hôm đó đã khuya lắm, Miên nằm trên giường còn nghe tiếng Hiển trằn trọc đằng góc phòng, rồi tiếng chàng thở dài, kế đó là tiếng Kha sực thức giấc hỏi:

- Anh chưa ngủ a, Hiển?

- Chưa - Hiển đáp.

Vừa lức trời đổ mưa, chỉ một phút sau tiếng mưa rơi dìu dịu rất dều trên mái ngói, Hiển phát biểu cảm tưởng:

- Nghe mưa rơi nhớ Việt Bắc ghê. nếu chúng nó không phản bội kháng chiến, sau này đất nước hoàn toàn độc lập, những kỷ niệm đó với mình quý giá biết chừng nào.

- Cảnh vùng quốc gia ngộ nghĩnh đấy chứ? – Kha hỏi lại.

Hiển ừ hử và tiếng Kha tiếp:

- Đương ở thế giới ngoài kia con người giống như những đồng xu, nói theo kiểu Maxim Gorki, vào đến đây tôi có cảm tưởng mình vào một khu rừng già …

Miên mỉm cười trong bóng tối, nàng rất ưng và thông cảm với Kha ở hình ảnh "khu rừng già", rồi nàng chợp ngủ.

Sớm hôm sau Miên thức dậy trước nhất ra giếng vục nước, rửa mặt đánh răng. Vợ chồng Đản còn dậy sớm hơn vì hôm nay đã tới phiên Đản tới quận làm việc. Quả như Miên tiên đoán, họ đã làm lành với nhau, và tuy họ chỉ thì thầm sợ kinh động giấc ngủ của người khác, nhưng dáng điệu họ thật là ríu rít; họ vừa bước xuống thềm thì gặp Miên từ giếng vào, đôi bên thân mật chào nhau và Uyển nói khẽ với Miên:

- Em tiễn nhà em ra xe.

- Vâng – Miên đáp – lát nữa chúng ta sẽ gặp nhau. Chúc anh Đản đi làm việc vui vẻ, thứ sáu lại về với chị.

Miên toan nói thêm vài lời cám ơn và từ biệt Đản vì lát nữa bọn nàng đã xuôi Hà Nội, nhưng nàng thấy rõ rằng lời nàng sẽ vô ích và nhạt nhẽo không để đâu cho hết đối với cặp uyên ương bịn rịn đó và nàng chỉ còn biết dừng lại ngắm họ ra cổng. Tuy sớm nay chẳng lấy gì làm lạnh, Uyển cũng khoác thêm chiếc áo len bên ngoài, chiếc áo len mầu nâu không hợp với nước da hơi xỉn của nàng, Uyển cố giữ vẻ khép nép để thu gọn hơn thân hình hơi xồ xề của nàng trong lần len. Người Uyển còn muốn chun lại hơn nữa khi nàng ngã đầu lên vai Đản. Đó cũng là cách "điệu" cho thêm phần quyến rũ - với trực giác của giới phụ nữ, Miên hiểu ngay thế. Nhưng nàng có hiểu đâu câu chuyện tình của hai người, nó thật lý thú, như chất hương của hoa nở, chất mật rừng man rợ vừa lên men, cứ thế mà tỏa ra, mà bốc lên, quyên lấy nhau, làm say lòng nhau.

Đản được bổ tới làm thư ký cho quận lỵ đó thì Uyển cũng vừa được nghỉ hè, từ trường tỉnh về trông nom giúp mẹ cửa hàng xén ngay sát nơi Đản trọ. Đây là lần đầu tiên Đản xa nhà, và cũng như hầu hết các chàng trai khác trong cùng trường hợp, anh cảm thấy tâm hồn vừa bâng khuâng vì tới chốn lạ, vừa ngây ngất vì hương vị tự do. Giá như Đản gặp Uyển ở ngay tỉnh lỵ Vĩnh Yên thì Uyển cũng đến bị lẫn ngay trong đám hương sắc trung bình của những cô gái tỉnh, nhưng Đản vốn thích ngâm thơ và thường cũng biết mình thuộc nòi đa tình. Các bạn công chức trẻ cùng trọ đều suy tôn Đản là thi sĩ. Uyển từ tỉnh về bất ngờ, nàng về quận lỵ sau Đản chừng ba hay bốn hôm là cùng vào một buổi chiều tà, giờ gà lên chuồng. Lúc đó Đản vừa bỏ kính trắng, từ căn gác trọ, đôi mắt hấp háy của chàng chợt nhìn xuống miếng sân vuông vắn bên nhà Uyển, khoảng giữa nhà trên và bếp, chàng bất chợt thấy bóng một thiếu nữ - bóng Uyển – đang vơ vội mấy chiếc quần áo trên giây. Khi chàng mang kính lên thì nàng đã vào nhà. Lòng bồi hồi chàng buột miệng ngâm bài "Cảm thu tiễn thu" của Tản Đà. Một anh bạn trẻ thấy thế bèn tưới dầu thêm vào lửa:

- Nàng học đệ tứ trường tỉnh đấy, chiều nay mình vừa gặp, xinh lắm.

Sự thực anh bạn đó có gặp ghiếc gì đâu. Sớm hôm sau vào giờ đi làm, qua cửa hàng, Đản có đưa mắt nhìn vào thấy nàng cũng vừa từ quầy nhìn ra, dường như nàng đã hiểu chính chàng là người ngâm thơ chiều hôm qua. Thật ra chàng có thấy nước da nàng hơi xỉn và thân hình nàng hơi xồ xề, nhưng người con gái nào đến tuổi dậy thì mà chẳng tỏa ra một cái gì mê hoặc và thiết tha? Buổi trưa tan sở về, chàng tạt vào cửa hàng nàng mua một hộp Gibb đánh răng, các bạn trẻ đứng ngoài kẻ thì dặng hắng, kẻ thì khúc khích cười làm nàng cứ phải cúi gầm mặt, hai tay luống cuống mãi mới gói xong cho chàng hộp Gibb. Ôi, tiếng dặng hắng đó, tiếng cười khúc khích đó đã là những dây dợ vô hình nhưng vô cùng kiên cố buộc trói lấy chàng và nàng ngay từ buổi sơ ngộ. Trong buổi sơ ngộ này, chàng đặc biệt chú ý đến mái tóc nàng cố ý chải xõa xuống che một chút đuôi mắt lim dim bên trái. Khi chàng trả tiền, nàng ngước nhìn cám ơn, đôi mắt nàng một bên to, một bên hơi nhỏ và hơi lé một chút, chính vì vậy mà khi nhìn vào đôi mắt ấy, chàng như thấy mình bị thâu hút vào một thế giới kỳ ảo làm điên đảo tâm hồn. Rồi mỗi lần chàng vào cửa hàng mà có bạn theo, nàng thường ngượng ngập, nhưng nếu chỉ có mình chàng thì nàng lại có khoé nhìn vẫn ngượng ngập đấy mà vẫn thiết tha khiêu khích làm sao. Rồi nàng lại mượn sách của chàng, phần nhiều là những tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn, đôi khi nàng cho con bé người làm mang sách sang gửi giả trước giờ chàng đi làm về một vài phút, bên trong thế nào cũng có vài hàng cám ơn mà bên dưới trước khi ký nàng có ghi "Em gái anh". Nàng rất thành khẩn chỉ xin làm "em gái anh" thôi. Cho đến một buổi sớm kia – đa cảm như chàng thì trọn đời chẳng thể quên được buổi sáng ấy – chàng vừa ra khỏi nhà trọ để đến văn phòng quận thì nàng cũng vừa từ trong cửa hàng dắt xe đạp tiến lên mấy bước cùng một chiều với hướng chàng đi, dáng nàng uyển chuyển như rắn trườn trên cỏ xanh mà đồng thời cũng hiền như chim câu, rồi nàng ngồi lên yên xe bắt đầu đạp xe, hai dây xú chiêng nổi hằn vuông vắn từ hai bên vai xuống, chiếc áo dài nàng mặc hôm ấy màu hồng nhạt đến nỗi chàng có cảm tưởng đó chính là màu da thịt nàng hồng lên ánh qua làn vải. và đấy mới thật là màu da của nàng chứ! Nàng hơi đẫy ư? Không, nàng chỉ tràn đầy sức sống! Trông thấy thân hình nàng mà như ngửi thấy hương thơm, thứ hương thơm nồng ấm tỏa ra tự miền da thịt tràn trề sức sống của nàng. Chàng dừng lại đợi cho bóng nàng cùng chiếc xe bon từ từ khuất hẳn sau lối rẽ. Chàng bâng khuâng tiến bước, tới trước một villa nọ chàng vô tình ngửng lên thấy một cô gái trạc đôi tám đương khoanh tay tựa cổng nhìn chàng nửa như tò mò quan sát nửa như chờ đợi bâng quơ. Thấy chàng ngửng lên cô quay vào dáng đi cũng uyển chuyển gót guốc bước mau trên lối đi phủ đất cát màu đỏ ẩm hơi sương, để lại những dấu hằn rất rõ khiên vô cớ người con gái bỗng đượm một vẻ đẹp huyền hoặc. Nhưng cái vẻ uyển chuyển kia, những bước hằn trêbn cát đỏ kia, vẻ kiều diễm chợt tăng lên bội phần của người con gái kia đều quy tụ cả về NÀNG - Uyển – như trăm ngàn con suối nhỏ đổ ra song lớn cho rộng đôi bờ. Trong trí CHÀNG thật ra chỉ còn có NÀNG! Ngay buổi trưa hôm đó chàng mang sang cho nàng mượn một quyển truyện khác, bên trong có bức thư tỏ tình của chàng khởi đầu bằng câu đượm tính chất quyết liệt: "Em yêu ngàn đời của anh …" Buổi chiều chàng sang cửa hàng và nhân lúc vắng người đó nhắc lại vắn tắt những điều đã viết trong thư. Nàng chịu. Tình yêu của chàng và nàng luôn luôn là một ước vọng hiến dâng, nhưng vì họ yêu nhau thật nên các góc cạnh sỗ sàng của dục vọng được xóa mờ đi.

Con cú vọ Thời Cuộc sắp dùng lưỡi hái Chiến Tranh để chia rẽ đôi chim khuyên của Ái Tình: có người bà con từ Hà Nội lên báo cho chàng hay là chàng sẽ nhận được giấy động viên vào Nam theo học lớp sĩ quan ở Thủ Đức. Chàng đâu chịu hy sinh tình yêu để xông pha tên đạn cho quyền lợi lũ thực dân cướp nước và lũ tay sai bù nhìn bán nước! Tình yêu đã giúp chàng đủ sức chịu đau đớn khi tự chặt một đốt của ngón tay trỏ, tình yêu đã giúp chàng mưu cơ, biết thản nhiên trả lời vị bác sĩ quân y ở phòng trưng binh là chàng đã chặt đốt ngón tay đó để thề không đánh bạc. Dĩ nhiên người ta không thể cho gia nhập đoàn thể quân nhân một người không thể bấm cò súng. Chàng trở về với chức vụ thư ký quận lỵ. Chàng trở về với nàng, vĩnh viễn với nàng, vĩnh viễn với tình yêu; Hôn lễ cử hành sau đó ít lâu. Chàng thiết tha yêu cầu nàng chọn áo cô dâu màu hồng nhạt, chiếc áo cũng bó sát lấy thân hình. Chàng bàng hoàng nhưng chững chạc đi vào đêm tân hôn; khi ôm thân thể tràn đầy sức sống của nàng, chàng thì thầm ngâm lại bài thơ "Cảm thu tiễn thu" của Tàn Đà, lời thơ có thêm chất men tình yêu nên ngưng đọng như bức ảnh mà linh động như một khúc phim. Rõ ràng trong bóng tối mà chàng thấy da thịt "người em yêu ngàn đời" đương dậy lên thành màu hồng của áo. Chàng và nàng say sưa trong mối tình bát ngát như cánh đồng lúa đương xuôi về miền Trung châu và cao vút như ngọn Tam Đảo chiều chiều in cắt trên vòm trời tím ngát. Rồi nàng ở lại với gia đình chàng ra đi quận ly làm việc bốn ngày, về với nàng ba ngày. Tình yêu tiết lộ vì hoàn cảnh ấy càng khoác màu vĩnh cửu, chàng chỉ mới mất có một điều tự do là không được nghe Thùy Trang hát, nhưng điều cấm đóan này là một vinh dự chứ đâu là một thiệt thòi? Hai tháng thần tiên trôi qua, cũng có những phút giằn giỗi nhỏ nhưng đó chính là gia vị của tình yêu. Mãi tới kỳ vừa qua sảy miệng, chàng nói một câu hơi nặng tình; vì bất chợt bị chạm lòng tự ái nàng cũng không kìm được tình cảm khi đáp lại. Rồi buổi tối hôm đó nàng nằm trên giường, chàng nằm ở divan đọc sách mãi tới khuya, khuya lắm, chàng mới tắt đèn vờ ngủ cho đến khi ngủ thật. Hai đêm qua như vậy, Sáng ngày thứ ba thì bọn Hiển, Kha, Miên tới do chiếc Dodge 4 của Luận.

Khi cặp vợ chồng trẻ đã ra khuất cổng, Miên toan quay vào thì Kha từ gác xép xuống. Miên thấy niềm vui của mình tinh khiết như ban mai, nàng cười tươi và đon đả nói:

- Em tưởng anh còn ngủ.

- Hiển thì còn ngủ thật – Kha đáp – hôm qua Hiển trằn trọc mãi.

- Để em đưa anh ra giếng. Đi về phía này anh.

Hình như tới lúc đó Miên mới chú ý tới tiếng gà gáy xa, nàng né mình bước vào lối nhỏ, cũng tới lúc đó nàng mới kịp nhận thấy cỏ hai bên lề ướt đẫm sương đêm, và khi nàng cúi xuống vục nước cho Kha, nàng chằm chằm nhìn vào đôi chân Kha, đôi chân đi đôi dép kháng chiến bằng lốp ô tô.

Tám giờ Luận tới cùng chiếc Dodge 4 quen thuộc, lúc đó Hiển, Kha, Miên cũng vừa ăn sang với cụ chủ nhà xong, đương nghe cụ bàn chuyện thời sự và than phiền chẳng hiểu bao giờ chiến tranh mới chấm dứt, đất nước độc lập thật sự. Bộ ba vội vã đứng dậy từ biệt cụ, nhắc lại những lời cám ơn nồng nhiệt mà từ lúc ngồi xuống ăn sang ba người đã tiếp lời nhau nói.

Luận đưa ba người ra bến xe, chính chàng mua ba vé hạng trên. Luận căn dặn thêm một lần nữa khi ba người về đến Gia Lâm nhớ phải vào Ty Công An trình diện mà xin cấp giấy thông hành tạm thời. Đợi tới lúc xe hàng nổ máy hiển, Kha, Miên mới từ biệt Luận lên chỗ ngồi của mình trên xe. Xe hàng chuyển bánh, Luận còn đứng lại làm hiệu vẫy tay cho đến khi xe ra khỏi bến.

- Thế là yên chí - Luận nghĩ thầm – không còn sự gì có thể xảy ra được nữa. Luận đã lầm, chàng có ngờ đâu chính sự chu đáo của chàng mà Kha bị giữ lại ở Gia Lâm rồi giải về đề lao trung ương Hà Nội. Giá như Kha bị khám bắt ở ngay Vĩnh yên, Luận còn can thiệp kịp.

_________________
I stand with Ukraine

Cầu nguyện cho Ukraine
LDN

LDN


Back to top Go down

Thumb up Re: Khu rừng lau - Doãn Quốc Sĩ

Post by LDN Wed May 11, 2022 11:08 am

Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến 

CHƯƠNG 2 CHIẾC NHẪN SAPHIR

I

Kha bị giữ lại ở ty Công An Gia Lâm đã được ba ngày. Hai ngày đầu – hai ngày này mát trời – Miên cùng bà Tư từ Hà Nội sang xin vào thăm nhưng người ta không cho, viện cớ việc xét hỏi chưa xong. Ngày thứ ba Hiển và Miên đều đã xin được thẻ căn cước, buổi chiều hai anh định cùng đi thăm Kha, bà Tư can:

- Cậu Hiển chớ nên sang Gia Lâm. cậu vào chỗ đó gặp Kha làm gì? Cậu là thanh niên, cậu vừa ở ngoài ấy vào, cậu mới được cấp thẻ căn cước ngày hôm nay, mà cậu lại sang thăm cái người bị tinh nghi về cùng một chuyến với cậu, nhỡ người ta ngứa mắt giữ luôn câu lại để tra xét thì sao, cậu cứ mặc tôi và cô Miên là được rồi.

Hiển thấy lời bà Tư nói có lý. Đúng vào lúc bà Tư đương sửa soạn đi, thì có người tới hớt hải mách mối hàng. Miên nói luôn với bà:

- Thôi tôi đi một mình cũng được, tôi có thẻ căn cước rồi mà, bà cứ đi cho xong việc buôn bán kẻo lỡ dịp may.

Và Miên đi một mình. Nàng vẫn đi bằng xe đạp, chiếc xe đầm kiểu Peugeot mà cô con gái ông chủ nhà có nhã ý để nàng sử dụng suốt ngày như xe riêng của nàng.

Hôm nay trời nắng. Nắng đầu tháng bảy mà chói chang bốn ngả. Khi xe qua cầu Long Biên còn có hơi mát của nước và gió lộng, khi xe bắt đầu bon xuống dốc đầu cầu, hơi nóng từ mặt đường bốc lên ngột ngạt. mặt đường nhựa chảy ra nát nhẽo, bên trên phủ lượt bụi trắng xóa, khi bánh xe lăn qua, khoảng nhựa mềm quánh khẽ lún xuống để lật ra màu đen lấp lánh như than đá. Quãng đường nào hết nhựa, bụi đá nơi đó bạc phếch luôn luôn bị tốc lực của đủ loại xe hơi lớn nhỏ làm cho bốc tung lên, rồi tóa ra, phủ lên những lùm cây khô cằn hai bên lề đường; khoáng này gợi xa xôi đến hình ảnh khắc khổ của sa mạc với ánh nắng chói rực mà sức nóng làm cho đá nát vàng phai. Nhìn cả một giải đường xa phía trước chỉ thấy rực hơi, nhiều chỗ lấp loáng như gương. Xuống hết dốc, Miên đạp xe từ từ vào phố Gia Lâm.

Hai dãy nhà thấp hai bên đường phố hôm nay cũng có bộ mặt khác dưới nắng: những tường vôi loang lổ càng làm tăng vẻ ngột ngạt của oi bức, những mái rêu xám đen càng tăng vẻ tạm bợ của cuộc sống chưa có lối thoát. Cảm giác chua chát, buồn bã đó mãi đến hôm nay mới len vào tâm tưởng Miên, có lẽ vì hôm nay nàng mới chú ý đến ngoại cảnh một chút. Hôm đầu về đến đây thì Kha bị giữ lại, lòng Miên rối như mớ bòng bong. Rồi về tới Hà Nội, tìm đến nhà ông bà chủ nhà cũ ở phố Chợ Hôm, rồi gặp lại ông bà Tư ngay bên hàng xóm, hai anh em (Hiển, Miên ) phần lo cho Kha phần lo cho mình, có lúc nào Miên kịp chú ý đến ngoại cảnh, hay nói đúng hơn, ngoại cảnh chỉ là tiếng xe cộ ồn ào, những bóng người nhộn nhịp, thế thôi. Trong khoảng ồn ào nhộn nhịp một cách xa vắng ấy, là niềm lo âu của Miên về Kha, lo âu đến se sắt cõi lòng. Sáng ngày thứ ba, nhờ bà Tư giới thiệu với ông em rể làm ở phòng dịch Nha Công An Bắc Việt. Hiển, Miên được người bảo đảm chắc chắn để lấy thẻ căn cước, mối lo vợi đi đôi chút. Và hôm nay, lần thứ ba sang Gia Lâm, Miên mới có dịp ngửng đầu nhìn thẳng vào ngoại cảnh chan hòa ánh nắng.

Chẳng hiểu lần vào thăm Kha, có được phép? Hay cũng như hai lần trước bị họ từ chối, viện cớ việc xét hỏi chưa xong.

Miên tới Ty Công An Gia Lâm đúng lúc nơi đây vừa mở cửa làm việc buổi chiều, nghĩa là khoảng hai giờ rưỡi.

Vẫn như hai lần trước, Miên đến thẳng bàn giấy của một nhân viên trẻ tuổi nhất, khi đó y còn đứng và đương dùng chiếc mùi xoa phẩy bụi bên ghế rồi trên bàn giấy. Người y tầm thước, mặt lưỡi cầy, mái tóc chải mượt, mượt đến như dính liền với da đầu. Bao giờ y cũng mặc chemisette trắng, quần hàng tussor màu vàng ngà ngà. Đôi giày trắng để da y đi đóng theo kiểu mới nhất của các "công tử" đương thời, nghĩa là phần mũi ngoài cùng dẹp và cong lên tưởng như giầy đã bị đè lâu dưới một cái giương nặng, vừa được chủ rút ra. Thấy Miên tới, y cúi đầu chào, miệng nở nụ cười xã giao, đôi môi mỏng căng bóng để lộ hai hàm răng có những kẽ đen vì hút thuốc lá. Nụ cười đó lẽ ra phải Sở Khanh lắm, nhưng trái lại đượm vẻ chân thật, có lẽ vì ý nhận thấy khuôn mặt Miên lúc nào cũng dịu dàng chân thật như vậy.

- Thưa ông hôm nay tôi đã đưọc phép gặp anh tôi chưa ạ?

Ngay từ hôm đầu, Miên đã có cách hỏi như vậy, khiến viên công an đó tưởng nàng là em họ Kha.

- Thưa cô được đấy ạ - y đáp trong khi đôi mắt Miên sáng lên.

Nhân viên công an tiếp:

- Xin cô ngồi chờ một phút, người tùy phái tới, tôi sẽ bảo xuống mời ông anh của cô lên.

Chừng ba phút sau, người tùy phái lên, dẫn ba người bị giam vì tình nghi. Ba ngưòi đó tới ba bàn khác, ngồi đối diện với nhân viên công an của từng bàn để trả lời những câu chất vấn trước khi viết tờ cung. Câu hỏi khẽ xen với câu hỏi sẵng, bỗng một tiếng nạt nộ ở bàn bên làm Miên chột dạ:

- Ông đừng để tôi phải dùng đến biện pháp cứng rắn. Lời ông khai láo hết!

Vừa lúc đó, người tùy phái đã trở lại, dẫn theo Kha cùng vào.

Nhân viên công an giơ tay mời Kha ngồi đối diện với Miên mà nói chuyện, rồi y tiếp tục cúi xuống làm bộ chăm chú xét hồ sơ, kỳ thực đôi mắt y đưa đẩy và tai phải của y luôn luôn nghiêng hướng về câu chuyện để theo dõi.

- Em và anh Hiển – Miên nói với Kha - hiện về ở số 78 phố Chợ Hôm với ông chủ nhà cũ, nơi ngày xưa chúng em trọ học.

Kha cười, gật đầu làm bộ cũng biết chỗ đó và đáp:

- Thế thì tốt lắm, nhưng cần nhất Hiển và cô phải có việc làm để bảo đảm đời sống. Tôi chắc Hiển có thể dạy học, cô có thể xin vào làm tại nhà thương Phủ Doãn chẳng hạn.

Miên khẽ gật đầu:

- Vâng em cũng nghĩ thế. Anh Hiển chắc đi dạy học, em mà được vào làm nhà thương Phủ Doãn thì còn gì bằng.

Miên dựa vào câu nói của Kha mà trả lời như vậy, giọng nàng lơ đãng vì còn mãi ngắm khuôn mặt Kha (khi đó Kha hơi cúi xuống nhìn chân nàng) khuôn mặt xạm nắng gió những ngày qua, râu cằm và râu mép mọc đã khá dài, đôi mắt tuy nhìn xuống mà vẫn đượm sức mạnh man rợ. Khi Kha ngẩng lên Miên hơi lái tia nhìn chệch đi một chút.

- Tôi đã viết xong tờ khai – Kha nói - để ông Phó Trưởng Ty xét, chắc chỉ nay mai được về. Tôi sẽ về ngay số 78 phố Chợ Hôm.

Miên cười, nụ cười đầy tin tưởng và đáp:

- Vâng em chắc là thế.

Và cũng từ lúc đó Kha mới hay hai hôm trước đây Miên đều có tới đây mà không được phép gặp chàng. Bỗng sực nhớ ra điều gì, Miên ngồi thẳng người thò vội tay vào túi áo cánh bên trong, rút ra tập giấy bạc, khi xoè ra gồm có năm tờ hai chục. Nàng nói với Kha, giọng thốt nhiên ân cần:

- Anh cầm lấy kẻo nhỡ cần tiêu việc gì.

Thấy Kha có thái độ ngần ngại, Miên giục, giọng cương quyết.

- Anh cầm lấy!

Kha giơ tay đỡ lấy tập giấy bạc, im lặng nhìn Miên như muốn hỏi tiền ở đâu ra. Hiểu ý Miên tiếp:

- Em vừa bán chiếc nhẫn saphir sáng nay. Bán được ba trăm.

Nàng cười, nụ cười vô cùng thơ ngây và uốn cong ngón út tay trái của nàng lên. Phải rồi chiếc nhẫn saphir mà Kha nhận thấy lần đầu ở trên đỉnh núi lạng Hạc Thủy khi chàng nói với Miên về màu tím phớt hoa lau, chiếc nhẫn đó nay không còn nữa.

Tiếng Miên nói:

- Nhẫn đó em mua vào tết năm em mười bốn tuổi, dạo đó em đeo nó ngón tay này (Miên cong ngón tay giữa lại) nhưng rồi mỗi tuổi một lớn, các ngón tay cũng lớn theo (Miên cười, viên công an trẻ tuổi cũng cười theo vì lời nói thơ ngây của nàng), năm mười bảy tuổi em phải đổi nó sang ngón này (Miên lại cong ngón tay út lên)

Kha cười nhìn thẳng vào đôi mắt Miên, Miên vội quay đi (có lẽ chẳng bao giờ nàng kham được sức mạnh man rợ của đôi mắt ấy).

Tiếng Kha:

- Và từ ngày đó, cô không phải đổi sang ngón nào khác nữa vì không còn ngón nào bé hơn, và cô cũng hết lớn rồi.

Kha cười khẽ hòa với tiếng cười khẽ của Miên. Lúc đó Miên mới dám nhìn thảng vào đôi mắt của chàng trai khá kỳ dị đó.

Lòng Kha tràn ngập một nỗi vui bâng khuâng vì chàng thấy mình vừa khám phá được tiếng nói bí mật của chiếc nhẫn saphir vắng mặt. Thấy rằng không nên kéo dài câu chuyện Kha đứng dậy điềm nhiên bảo Miên:

- Thôi cô cứ yên lòng về nhé. Cô làm ơn báo ngay cho chú ruột tôi là ông Hạo biết tôi đã về. Cô biết làng Định Quyết chứ, cách nhà thương Bạch Mai không bao xa, cô đi xe điện đến cộc đường, làng ở bên trái. (Chàng giơ năm tờ giấy bạc lên). Cám ơn cô về cái này.

Viên công an trẻ tuổi cũng đứng lên vẫy người tùy phái ở góc phòng để người này dẫn Kha trở lại nhà giam. Y còn cười nhìn Kha, Miên một lần nữa, nụ cười chứng tỏ y đã hiểu Kha, Miên không phải là anh em họ.

Bên ngoài bàn giấy Công An đã có cảnh binh. Kha theo người tùy phái rẽ vào ngõ hẻm bên trái. Ngõ hẻm được chăng giây thép gai dọc theo chiều sâu và ngay đầu hẻm cũng đã có lính cầm súng đứng gác.

Miên nhìn theo bóng Kha đi sâu vào gần cuối hẻm. Người lính gác ở trong cùng mở cánh cửa sắt của căn nhà bên phải, Kha bước vào và khuất bóng. Đó là nhà tạm giam.

Miên còn tần ngần đứng lại mấy phút sau. Khuôn mặt người lính ngoài cùng cũng như dáng điệu người lính phía trong cùng đều lạnh lùng như nhau.

II

Ba hôm trước đây Hiển, Kha từ biệt Luận rời Vĩnh Yên trên chuyến xe bàng tám giờ rưỡi sáng. Sau hai giờ chạy, xe về tới Gia Lâm. Theo thường lệ, xe phải dừng lại trước ty công an để nhân viên công lực kiểm soát hành khách và hành lý. Theo đúng lời căn dặn của Luận, Hiển, Kha, Miên cùng vào bàn giấy ông trưởng ty trình diện và xin cấp giấy thông hành tạm thời. Hành lý của ba người hồi cư phải mang xuống để các nhân viên khám xét kỹ. Họ xét hành lý của Kha trước. Lần này họ đòi xem cả ví tiền, do đó họ tìm thấy mấy chiếc ảnh kỷ niệm Kha chụp với mấy người bạn cùng mặc đồ quân sự. Họ giở tiếp đến quyển sổ tay và đọc thấy có những dòng liên quan đến kháng chiến. Thế là Kha bị giữ lại. Kể từ phút thấy mình có thể bị lôi thôi, Kha làm như không hề quen biết Hiển, Miên không thấy gì, họ coi hai người như thường dân hồi cư và cấp ngay cho giấy thông hành tạm thời.

Khi Hiển, Miên đã lên xe về Hà Nội, Kha bình thản ngồi trước viên công an sắp thẩm vấn chàng. Kha tin ở sự thẳng thắn của mình. Có lẽ cũng thông cảm với ý nghĩ của Kha viên công an nói:

- Thì ra ông là ngưòi quy thuận, giá ông nói trước thì chúng tôi khỏi phiền ông như thế này.

Kha điềm nhiên mỉm cười khẽ gật, tỏ ra chàng hiểu ý viên công an, sự thực đó là lần dầu tiên chàng nghe thấy chữ "quy thuận" và qua lời nói trên của viên công an thì hình như những người quy thuận phải được biệt đãi mới phải. Kha đã thẳng thắn trả lời những câu chất vấn của viên công an. Cuộc nói chuyện giữ hai người rất hòa nhã, tưởng như Kha nhân có việc đi qua tạt vào hàn huyên với người bạn quen.

Sáng hôm sau việc thẩm vấn chuyển sang viên công an khác. Viên này có thái độ hục hặc ngay từ phút đầu, vì vậy khi viết tờ khai, Kha ghi ngay ở trang đầu:

" Tôi yêu cầu ông Trưởng ty coi tôi như người quy thuận. Tôi tự ý về vùng quốc gia chứ không phải là tù binh".

Ngay buổi chiều ông phó trưởng ty mời chàng vào bàn giấy (ông trưởng ty còn bận đi kinh lý). Là một người học thức và có tâm huyết ông nói ngay là ông rất xúc động khi đọc hết cuốn sổ tay của Kha. Chính những tư tưởng Kha ghi trong đó xui ông quyết định có biệt nhỡn với chàng. Đã được đọc tư tưởng Kha qua những trang nhật ký, giờ đây nghe lại chính giọng Kha nói, giọng nói êm đềm nhưng chững chạc và gẫy gọn, lại được nhìn thẳng vào đôi mắt Kha, đôi mắt man rợ một cách đáng yêu, cả nhân cách Kha như thoát ra thành mùi hương của núi rừng, thơm hắc lẫn lộn, nhưng ngay thẳng lớn mạnh không một bàn tay nhỏ mọn nào phong tỏa nổi. Câu chuyện chuyển sang thành chuyện tâm tình. Ông khóa trưởng ty cho Kha hay ông sanh ở châu lỵ Lạng Sơn. (Phải chăng vì thế ông có óc liên tưởng ví nhân cách Kha như mùi hương bát ngát của núi rừng?) Cha ông làm tri châu mười lăm năm ở đó cho đến ngày chết. Ông theo học ở Albert Sarraut gần hết bực trung học, vì cha mất mà bỏ dở. Ông rất ưng những tư tưởng của Kha ghi trong sổ tay vì đều là – theo đúng lời ông nói – "những tư tưởng chính đính của một tâm hồn cương trực đòi gìn giữ nhân phẩm bằng đủ mọi cách ở mọi trường hợp. Những tâm hồn đáng quý như Kha rất cần cho những ai thật tâm muốn nắm giữ chính quyền để xây dựng chủ nghĩa quốc gia."

Gần cuối câu chuyện ông yêu cầu Kha viết lại tờ khai cho rõ hơn, còn việc chàng yêu cầu phải coi chàng như một người quy thuận thì đó là bổn phận dĩ nhiên của ông.

Thái độ ân cần của ông phó Trưởng Ty có ảnh hưởng tức khắc đến nhân viên công an hỏi cung Kha ban sáng. Khi Kha trở ra bàn ngồi viết tờ khai, y mang đến mời chàng ly nước trà nóng pha đường.

Căn phòng Kha bị giữ chỉ là phòng tạm giam, một phòng vuông lớn mỗi bề chừng sáu thước, nền lát gạch, tối đến mọi người trải chiếu ra mà ngủ. Hai ngày Kha bị giữ ở đó, trong phòng có chừng hai chục người bị giam, phần nhiều là dân tổng lý các làng lân cận bị tình nghi, người trẻ nhất chừng ba mươi tuổi, người già nhất chỉ tới năm mươi là cùng. Bàn tán chuyện vui, họ nói cười oang oang y như họp việc làng tại một gian đình. Giữa phòng là bàn chắn hoặc tổ tôm với năm người chính và thường kém theo năm chân chầu rìa (họ được quyền đánh tổ tôm như vậy, cỗ bài do người nhà gửi vào). Những người khác thì hoặc nằm khểnh xem sách, hoặc nằm quay mặt vào tường ngủ cho lại mắt vì đêm qua đã thức khuya chơi bài. (Như Kha đã chứng kiến, họ thường chơi bài đến mười một giờ khuya). Chiếu bạc chỉ tạm ngưng vào bữa ăn buổi trưa và buổi chiều.

Nói về ăn uống nhà thầu nơi đây khá có lương tâm, cơm gạo trắng bong, món canh thường là canh bí nấu với sườn, món gắp thường là thịt kho dừa. kể so với nếp sống khắc khổ ngoài hậu phương thì cơm trại giam như thế không thể đòi hỏi hơn và - điều này mới đáng quý – nó chứng tỏ cái tinh thần nhân đạo phơi phới của miền quốc gia. Sau bữa ăn mọi người được ra giếng gần đấy vục nước rửa mặt mũi chân tay. Ngay sau nhà giam là cái đầm lớn chậc ních sen Nhật bản. Giếng ở ngay sát đầm nên nước vục lên cũng tanh tanh như có mùi rễ sen.

Tới chiều hôm thứ ba sau khi được gặp Miên, lòng Kha tràn trề hy vọng và bâng khuâng, tràn trề hy vọng từ sau cuộc hội kiến ông phó Trưởng ty một thanh niên có tâm huyết, bâng khuâng vì sự kiện Miên bán chiếc nhẫn saphir. Kha không sao quên được nụ cười thơ ngây và cảm động của Miên khi kể qua chuyện chiếc nhẫn saphir vừa bán.

Kể từ buổi đầu tiên gặp Miên ngoài hậu phương, rồi sang vùng tề Vĩnh yên cho đến lúc Kha giữ ở Gia Lâm đã hai ngày qua rồi, rất nhiều khi Kha nói chuyện với Hiển, đôi khi nói chuyện với Miên. Kha cũng biết là Miên xinh, Miên thùy mị nhưng nàng thùy mị quá, hiền hậu quá, không một khoé mắt, không một nụ cười có tính cách khêu gợi chút ít, vì vậy đã là bạn thân của Hiển, Kha tự động có khuynh hướng coi Miên như em. Nhưng lần này vẫn ở con người xinh xắn và thùy mị ấy, có một sự kiện vượt mức bên trong: chiếc nhẫn saphir không còn trên ngón út của nàng: chiếc nhẫn saphir không còn, nhưng màu đỏ lấp lánh thấu đến khu tâm tình u ẩn. Kha cảm động thấm thía ở cử chỉ thầm lặng ấy. Chàng đợi chiều nay hoặc mai được tự do về Hà Nội … Chàng sẽ có cử chỉ gì, có lời nói nào với Miên? Chính chàng cũng chưa rõ, nhưng chắc phải đằm thắm hơn thái độ coi Miên như em. Nhưng Kha đã không may, số chàng còn nặng nợ, đúng lúc ông Phó Trưởng Ty đọc xong tờ khai, sắp tính chuyện ký giấy trả tự do cho chàng thì ông Trưởng Ty đi kinh lý về. Ông Trưởng Ty là một công chức già trên ông Phó Trưởng Ty một thế hệ, ông rất sợ trách nhiệm. Việc Kha bị giữ lại vì trong người có ảnh chụp, lại có tài liệu viết liên quan đến " ngoài kia" ông cho là TY không đủ thẩm quyền định đoạt. Ngay buổi chiều hôm đó Kha được mời lên xe jeep đưa về khám lớn nha nha Công An Bắc Việt gần toà án Hà Nội. Nhân viên Nha ký nhận Kha vào cuốn sổ công văn của nhân viên Ty mang theo. Kha cảm thấy mình cũng không hơn gì một tập công văn, một món hàng vô tri giác. Quả vậy, vào đến khám lớn, giá trị con người xuống dưới số không. Chàng phải in tay, chàng phải ngồi nghiêng cho nhân viên Nha lấy những đạc điểm của khuôn mặt, rồi người ta đưa chàng vào văn phòng nhà giam, nơi đây người nói như sai khiến và câu sai khiến nào cũng có tiếng chửi đệm. Chàng phải để lại văn phòng giây lưng, ví tiền(bên trong có năm tờ giấy hai mươi đồng của Miên). Sau cùng người ta dẫn chàng vào sà lim số 9, hẹp chừng một thước, sâu ba thước và đã có ba người bị nhốt trước trong đó.

Người thứ nhất chừng trên bốn mươi tuổi quê ở Bắc Giang chuyên nghề trồng rau. Suốt gày ông nói một cách hào hứng về phương pháp trồng rau như thế nào cho có kết quả tối đa. Đôi khi tạm ngừng chuyện trồng rau, ông chợt nhớ đến thân phận hiện tại của ông và ông thở dài nói khẽ: "Thật là oan tôi" giọng não nuột khác hẳn giọng hào hứng vừa qua khiến chính Kha ngồi nghe mà cũng tưởng như là tiếng của hai người khác nhau. Tất cả anh em đều thông cảm là ông oan thật.

Người thứ hai khoảng bốn mươi trở lại, sức dài vai rộng. Ông làm ở sở Lục Lộ và bị tình nghi ăn tiền. Có lẽ chính cái vóc ngưòi tráng kiện đó đã hại ông, nó chính là lời thách đố ngấm ngầm với tên tây lai hỏi cung và bị tra điện lần thứ hai về trước được mấy phút. Nửa đêm về sáng ông bị đau quặn bụng. Trong bóng tối chỉ nghe giọng nói không cũng biết là ông đương nhăn nhó. Ông xin lỗi anh em vì phải xử dụng một trong ba cái gáo dừa đi cầu vào đó (cái gáo dừa này dùng để dùng để đựng thức ăn trong bữa cơm).

Người thứ ba là một thanh niên khá vạm vỡ dưới ba mươi tuổi. Khuôn mặt tròn, nước da trắng xanh gần như bủng, răng trước cửa thuộc loại bàn cuốc. Cả hàm răng màu trắng nhờ nhờ nhệch vì trước là răng đen sau dùng át xít đánh lại. Anh đeo trước ngực tấm plaque hình chữ nhật, cả khuôn mặt anh, nhất là khi anh cười, đượm vẻ đần độn mất cá tính, nhưng khi anh ngâm thơ giọng anh trong và cao vút. Lúc đó anh như thoát xác, đôi mắt anh chợt long lanh trong bóng tối, khuôn mắt trắng bệnh của anh, có ánh hồng của máu dồn lên, bỗng đẹp như khuôn mặt hoàng tử trong cổ tích khi gặp được cô bé chăn chiên ưng ý. Anh lại ca vọng cổ Saigon, bắt đầu là những câu nói lối nhịp điệu khúc mắc như nhịp bước của con hươu non trong rừng tìm mẹ; khi hết chỗ nói lối anh xuống giọng để vào nhịp, giọng anh mịn như triền sông lao mình vừa đủ dốc không gợn một chút sóng.

Thế là Kha mến anh chàng và từ đấy không một phút nào Kha thấy chàng đần độn đáng ghét nữa. Thường khi chàng ngừng ca, có tiếng vỗ tay ở sà lim bên cạnh sà lim số 8, hoặc đôi khi có tiếng bên đó - tiếng con gái – nói giọng qua tường dầy:

- Hát nữa đi!

Đến bữa, cửa các sà lim mở dể nhận các thức ăn. Kha mới biết sà lim số 8 có nhốt hai người đàn bà, một đứng tuổi và một dưới hai mươi, dáng mảnh mai, chắc là một nữ sinh? Giọng giục " Hát nữa đi " chính là giọng của cô.

Khoảng thời gian cho những người sà lim láng giềng trao đổi chút ít câu chuyện thật ngắn ngủi, chỉ chừng năm phút kể từ lúc mở cửa sà lim lại đóng để mọi người bị giam ăn bên trong. Năm phút đó sao mà quý giá, đủ để cô nữ sinh nhìn vào đôi mắt anh bạn ca vọng cổ khen một câu ngắn gọn nhưng không kém phần tình tứ;" Hay lắm anh! " Có hôm nhận được quà lê, táo của gia đình bên ngoài gửi vào - chỉ những người lấy cung xong mới được nhận – cô nữ sinh gửi sang biếu bên sà lim số 9 một trái lê và một trái táo. Ai cũng nhận đó là lộc của anh bạn ca vọng cổ. Được chứng kiến năm phút hối hả giao ngát tâm tình đó, Kha liên tưởng đến Miên, đếu uy lực của chiếc nhẫn saphir nhỏ xinh và kín đáo nay không còn, nhưng ánh sáng của nó lại đi vào một hiện hữu khác, hiện hữu tâm linh.

Hôm nào cũng khoảng bốn giờ rưỡi sáng, tất cả cửa sà lim đuợc mở và dưới ánh đèn vàng kệch như mệt mỏi vì thức khuya, mọi người ồ ạt ùa ra làm mấy việc cần thiết: đi cầu, rửa mặt, đánh răng hoặc tắm … Mười lăm phút sau đã ai phải về sa lim nấy.

Mỗi buổi sáng cô nữ sinh được tha, cô gửi lời chào tất cả anh em sà lim số 9 và nhắc khéo với " ai " địa chỉ của cô. Tính ra cô đã bị giam sáu tháng. Rồi anh bạn ca vọng cổ cũng được quyền chuyển lên nhà A, điều mà ai ở sà lim cũng thèm muốn vì những người thuộc nam giới mà được chuyển lên nhà giam công cộng A hoặc B, ấy là điềm sắp đến ngày tha về. Kha được biết anh này cũng bị giam mất đến bảy tháng rồi. Thế nào khi được ra, anh chàng chẳng tìm đến nhà nàng! Bóng tối và tường dầy của sà lim không ngăn nổi tiếng gọi của trái tim. Năm phút cửa mở nhận cơm tù để nhận đồ trao tặng, đồ trao tặng tuy nhỏ mọn nhưng lại vô cùng lớn lao vì giá trị tượng trưng của nó, nơi đây trai gái trao tặng nhau như vậy là trao tặng cả tâm hồn.

Kha rùng mình nghĩ đến ngày mai của chàng. Theo như lời anh em cùng sà lim nói thì mặc dầu chàng đã được hỏi cung xong bên Gia Lâm, về đây ngưòi ta vẫn hỏi lại. «Người ta» đây là tên tây lai chuyên môn vừa uống bia vừa hỏi cung, mặt đỏ như Quan Công, mắt long sòng sọc, thường xuyên giận dữ vô cớ. và chàng có thể bị giữ trong này sáu bảy tháng nữa là thường!

Thốt nhiên Kha nhớ đến lần chạy giặc gian lao ngày nào trên cánh đồng ngập nước làng H. thuộc huyện Thạch Thất gần chân núi Ba Vì.

Trước ngày tác chiến, bà Giáo đã ra tận villa đường Bờ Sông nơi Kha ở, khuyên mẹ cứ yên chí ở trong quê. Quân Pháp chỉ khiêu khích thôi, chứ chiến tranh đã chắc đâu bùng nổ.

Bà Giáo về. hai hôm sau – 19-12 – 1946 - chiến tranh bùng nổ. Bà ở trong quê nóng lòng sốt ruột đợi. Qua đi một tháng bộ đội Pháp từ Hà Nội đánh tỏa ra các miền quê lân cận. Bà Giáo căn dặn khắp người làng để nhỡ ai sau này có gặp Kha thì báo cho Kha biết bà tản cư lên Tuyên Giang ở một trong những nhà người quen cũ. Khi qua huyện Thạch Thất (Sơn Tây) bà giáo gặp một bà bạn buôn cũ lúc đó tản cư ở làng H. gần chân núi Ba Vì. Với con mắt quan sát lão luyện của nhà buôn, hai bà đồng ý là chính khoảng tiếp giáp giữa hai vùng bị tạm chiếm và kháng chiến này mới là đất buôn bán. Tuy nhiên bà giáo vẫn lên Tuyên để dặn dò mấy bà quen trên đó là Kha có tới thì bào bà hiện tản cư ở làng H. thuộc huyện Thạch Thất gần chân núi Ba Vì. Bà đinh ninh dặn mọi người như vậy chẳng khác gì xếp đặt một việc mà bà biết trước sẽ xảy ra đúng như dự đoán. Bà có sầu khổ vì xa con độc nhất nhưng bà không thấy máy mắt, nóng ruột, trái lại khi lắng tâm nghe ngóng bà vẫn cảm thấy yên tĩnh thoải mái, linh tính làm mẹ nhủ với bà rằng chắc chắn là Kha không việc gì.

Rời khỏi Trung Đoàn Thủ Đô, tiện đường Kha tới đồn điền Lợi Ký mong gặp Vân thì người yêu đã lấy chồng! Bù lại, nơi đây Kha gặp được người bạn mới – Tân. Đôi bạn Tân Kha rời đồn điền Lợi Ký rủ nhau tới làng Đại Đống (cách Phú Thọ chừng hai cây số) để cùng ghi tên học Thuốc, nhưng nửa đường Tân hay tin mẹ ốm phải về Bắc Ninh tức khắc. Kha đổi ý định không đến ghi tên học Thuốc ở Phú Thọ, mà sang sông về Vĩnh Yên ghi tên học Luật để được gần nơi mẹ tản cư. Chàng đã ghi tên học Luật rồi tìm đến Thạch Thất gặp mẹ. vào buổi chiều chàng vừa bước chân tới làng H. cả vùng này còn bình yên. Hai mẹ con gặp nhau cùng khóc. Đã hơn một tháng qua bà Giáo không tự ý buôn bán được gì, chỉ hùn vốn với người chủ nhà để chia lãi nhỏ. Bệnh tức ngực cũ của bà - hậu quả bao năm ngược xuôi lao tâm lao lực trước đay trở lại trầm trọng, nhiều lần bà thấy nghẹt thở như có cối đá đè ngang ngực, sở dĩ bà gắng gượng ở lại làng H. chỉ để trông ngóng tin tức Kha. Với bà sự Kha đột nhiên ""lù lù về"" không hề là một xuất hiện bất ngờ, linh tính làm mẹ đã báo cho bà hay trước là tất nhiên sẽ vậy. Gặp Kha rồi, đinh ninh dặn dò đủ điều rồi, bà giáo tmình phải về thành gấp để trị bệnh. Bà thấy tha thiết sống, cần phải sống cho đến ngày kháng chiến thành công, bà sẽ trở ra hậu phương chăm nom Kha cho đến ngày Kha có vợ có con. Trường kỳ kháng chiến thì đứa con độc nhất của bà cũng phải thành lập gia đình có vợ có con để nối dõi tông đường chứ. Kể ra mới gặp con được có một ngày mà đã vội chia tay, ít quá thật đấy, nhưng quá quyến luyến ở thêm ngày nào bệnh tình nặng thêm ngày ấy, có khi thành vĩnh biệt!

Kha tiễn mẹ theo đoàn người đi buôn về vùng tề chiều hôm trước, chàng còn ở các vị trí của chúng tự bao giờ, ào ạt tấn công từ mấy ngã, một cuộc hành quân càn quét, chắc thế. Kha theo đám dân chúng gồng gánh, cõng địu, bồng bế ra lánh giặc ở một bãi tha ma giữa đồng, bên cạnh một đầm sen rộng và dài mang hình ảnh một con sông, chàng mừng thầm mẹ về thành vừa kịp lúc. Mấy lần Dakota liệng thấp quan sát thấy toàn là dân chúng nên không oanh tạc. Bộ binh địch tự ba bề đương tiến lại, buổi chiều nhoà nhòa đã nghe thấy tiếng đạn liên thanh ở làng bên kia đầm sen. Kha thấy phải rời gấp vùng này, một thanh niên trẻ măng như chàng sa vào tay địch trong một cuộc hành quân tảo thanh như thế dễ gì mà thoát chết. Chàng lội bì bõm miết mải đến ba tiếng đồng hồ liên trên cánh đồng mênh mông, lúa đã cao ngang thắt lưng. Ba bề tiếng đại bác gầm, tiếng liên thanh rít, Kha giữ vững hứng sao Bắc Đẩu mà tiến ra ngoài vòng tử địa. Ánh sáng sao Bắc Đẩu lúc đó thể hiện niềm vui lâng lâng trong lòng chàng mừng mẹ đã thoát nạn!

Ngày nay trong sà lim số 9 không nhìn thấy sao Bắc Đẩu!

Nhưng còn chiếc nhẫn saphir! Còn chiếc nhẫn saphir!

Bá giáo về thành được sáu tháng, bệnh tình có thuyên giảm. bà còn sống ở quê Định Quyết ngót hai năm nữa bệnh tức ngực mới đột nhiên tái phát, lần này là lần cuối.

Trường Luật Kha theo đã giải tán, một phần sinh viên được biên chế về các cơ quan thích hợp, một phần lớn tình nguyện theo học trường Lục Quân Trần Quốc Tuấn. Kha thoạt xin sang làm việc ở bộ Tư Pháp. Nơi đây, vì biết chàng có khiếu văn nghệ, ngoài công việc thường ngày người ta còn ủy cho chàng trông nom tờ nội san. Một năm qua đi, chán công việc văn phòng, Kha theo gót các bạn cũ xin theo học trường Lục Quân Trần Quốc Tuấn khóa Bảy. Chàng hay tin mẹ mất cũng vào dịp này. Mối duyên văn nghệ còn đeo đẳng Kha khi toàn thể học viên khóa Bảy đã tề tựu ơ» Phụng Minh Thôn (Côn Minh), ngoài giờ tập luyện quân sự Kha còn được hiệu bộ ủy cho trông nom tờ nội san của trường.

Một lần nữa Kha vươn vai, ngẩng nhìn trần sà lim số 9. Chàng mặc cho ý nghĩ miên man về hình ảnh chiếc nhẫn saphir muốn lẫn vào với ánh sao Bắc Đẩu.

Ôi chiếc nhẫn saphir, ánh sáng như thổn thức trên vòm xanh cao thăm thẳm thanh bình. Ánh saphir như đương rọi qua mây mờ của thời gian, sương mù của đau khổ thành một vệt sáng hy vọng mong manh nhưng chẳng bao giờ tắt.

_________________
I stand with Ukraine

Cầu nguyện cho Ukraine
LDN

LDN


Back to top Go down

Thumb up Re: Khu rừng lau - Doãn Quốc Sĩ

Post by LDN Fri May 13, 2022 12:29 pm

Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến 


CHƯƠNG 3 VỀ LÀNG
I

Kha theo Miên và bà Tư ra khỏi Nha Công An vào phút cuổi giờ tan sở. Lần đầu tiên gặp Kha, nhưng bà Tư coi chàng như chỗ quen biết cũ, hay đúng hơn coi chàng như người trong nhà. Bà Tư quý mến Miên quá nên hễ ai là bạn của Hiển, Miên là bà coi như người nhà rồi. Bà quý mến Miên đến nỗi ngay buổi đầu tái ngộ bà cứ ân hận một cách vô lý nhưng thành khẩn là sao mãi đến bây giờ bà mới được gặp Hiển, ông anh ruột của cô Miên.

- Chúng ta hãy cứ đứng đây cậu ạ, đợi xe! – Bà vừa cười vừa nói với Kha khi cả ba người đã ra khỏi cổng sắt đứng trên vỉa hè sát đại lộ Trần-Hưng- Đạo, đại lộ dài nhất Hà-Nội chạy từ cửa chính ga Hàng Cỏ đến nhà thương Lanessan.

Bà ngắm Kha thêm chút ít rồi tiếp, vẫn giọng vui-vẻ ấy:

- Đầu tóc râu tia thế kia, người Hà-Nội trông biết ngay là dân hậu phương hồi cư.

Bà quay lại nói với Miên:

- Ấy cái dạo nhà tôi về đây cũng thế, cũng đầu tóc, cũng râu ria như cậu gì đây (bà quên tên Kha). Tôi buồn cười đến chết. Mà nào ông ấy có chịu cắt tóc cạo râu ngay đâu. Ngày nào cũng vậy, tắm gội xong, ông lên xếp bằng tròn trên sập, vuốt râu vuốt tóc, ông nói mình đã thoát phong trần nhưng nên giữ những hình tích phong trần này để làm kỷ niệm. Tôi kỳ kèo mãi ông mới chịu đến hiệu hớt tóc cách đấy ba nhà.

Giọng nói đang trong-trẻo của bà bỗng đượm vẻ sầu thương như ánh nắng vàn mùa thu bỗng có áng mây buồn trôi qua che rợp cảnh vật:

- Chẳng bao giờ cô Miên à, cậu gì ạ, chúng tôi quên những ngày phong trần! Bà rút khăn mùi xoa chấm nước mắt:

- Cám ơn cô Miên đã trông nom nấm mồ cháu Lân.

Giọng bà nghẹn-ngào phải ngừng lại mấy giây rồi mới tiếp:

- Cứ tình hình như thế này chẳng biết ngày nào chúng tôi mới mang được cháu về.

Người ngoại quốc nào nghe bà Tư vừa nói mà chẳng tưởng lầm là con bà còn sống. Miên lúng-túng chưa biết tìm cầu nào an ủi. Từ ngày gặp lại bà Tư, bao nhiêu lần như thế rồi. Câu chuyện đương vui vẻ, chợt vì một liên tưởng nào làm bà nghĩ đến Lân, đứa con xấu số chết gục chôn vùi ở một xó trung du xa-xôi, thế là bà khóc và Miên lúng túng… lúng-túng vì nàng biết lời nói nào của thế gian cũng trở thành giả dối nhỏ mọn trước nỗi đau khổ sâu rộng của người mẹ đó. May sao vừa thoáng thấy hay xe xích lô từ xa lại, Miên vội xuống đường vẫy rối-rít Kha lên một xe, Miên và bà Tư lên một xe. Kha ngả đầu trên thành nệm, ngẩng nhìn trời. Vài tia nắng quái còn vưởng-vất trên những ngọn me cao vút, thỉnh-thoảng đối mắt Kha bắt gặp một chùm hoa phượng, mầu đỏ muộn-màng còn sót lại của mùa hạ đó như trao tới chàng mọt nụ cười nửa buồn rầu nửa riễu cợt.

Mới hôm qua đây khoảng chín giờ sáng, ngoài hành lang tít phía xa dưới cổng tò vò chính giữa trại giam, có tiếng gọi:

- Phạm-Mạnh-Kha!

Thấy Kha còn ngơ-ngác, một anh bạn trả lời lớn giúp chàng:

- Dạ!

Sau bảy ngày bị giữ tại sà-lim số 9, hôm nay là lần đầu tiên Kha được gọi lên phòng giấy. Người ta sẽ đưa chàng sang phòng hỏi cung có tên tây lai mặt đỏ, hơi thở sặc mùi bia chăng? Không, người ta dẫn chàng lên gác vào phòng chụp hình.

Ông thợ chụp hình có lòng tốt muốn an-ủi mọi người, với ai ông cũng bảo là thế nào rồi cũng được tha, vì vậy lời an-ủi của ông không còn một chút giá trị gì. Có điều, lời nói của ông chân tình nên người nghe cũng không thấy bực rọc.

Từ ngày anh chàng ca vọng cổ lên nhà A (và hôm sau anh ta được tha) sà-lim số 9 có thêm anh mới người loắt-choắt rất bẻm mép. Anh thân mật làm quen với Kha, kể chuyện tâm sự với Kha, rồi luôn thể hỏi Kha về quê quán, gia đình, nghề nghiệp. (Sau này suy ra, Kha đoán anh là nhân viên của Nha ném vào).

Sau đấy Kha được chuyển lên nhà A, chàng biết như vậy mình không bị hỏi cung lần nữa. Hú vía! Một điều không may khác, Kha lên nhà A đúng vào ngày Nha mở chiến dịch phòng ngừa nhân dịp thủ tướng từ Nam ra Bắc kinh lý. Bao nhiêu người trước đây bị tình nghi hoặc mới được thả nhưng còn bị theo dõi đều có trát đòi tới Nha rồi bất chợt giữ lại tam giam chật ních cả hai nhà A và B. Đêm đến người nằm chen- chúc kín trên sàn, kín gầm sàn. Nhiều lúc Kha thấy nghẹt thở, hễ chợp ngủ, lập tức bị bóng đè không vùng vẫy được chân tay, toàn thân toát mồ hôi lạnh, tưởng rồi cứ như vậy cho đến khi bị chết ngạt hẳn. Ai nấy mong chóng tới ban ngày để được hưởng ba giờ ra sân giải trí vào buổi sáng, trưa và chiều.

Buổi chiều hôm sau Kha được gọi lên phòng văn thư. Tới đây chàng đã thấy Miên ngồi đợi. Ông trưởng phòng hỏi chàng thêm vài lời, rồi bắt đầu làm giấy phóng thích, ông cần hai người đứng ra bảo đảm. Khi Kha trở lại văn phòng nhà giam lấy dây lưng và ví tiền, Miên phải vội về kiếm thêm bà Tư (nàng biết Hiển vào giờ đó chưa về) để giấy tờ làm kịp trước giờ tan sở.

Kha không bị thẩm vấn lại, chàng được sớm lên nhà A và sau cùng được tha, tất cả những may-mắn đó là công bà Tư luôn luôn đến nhà ông em rể thúc dục nhờ nói với những người có đủ thẩm quyền. Tính từ ngày Kha bị giữ ở Gia Lâm đến ngày chàng được thả tự do đã mười một ngày qua. Hiện chàng được cấp giấy thông hành tạm thời, hẹn một tháng sau còn phải ra Nha trình diện lần nữa.

Bà Tư đưa Kha, Miên về tận nhà, ngồi nán lại chuyện trò đến năm phút, khi đứng dậy cáo từ bà nói với Kha:

- Thôi thế này là tôi mừng cho cậu, rồi đây có học như cậu thì thiếu gì việc làm.

Kha cám ơn bà Tư đã hết lòng giúp mình, chàng cũng cảm thấy yên lòng trước tương lai.

Bà Tư đi rồi. Hiển chưa về, chỉ còn Kha, Miền trong nhà. Đôi mắt Kha rán theo từng cử chỉ của Miên như môi khát không chịu dời bình nước đương uống. Miên biết vậy, nàng không dám nhìn Kha. Để khỏi luống-cuống, nàng vừa sửa-soạn chỗ nằm cho Kha vừa kể lại sự tình:

- Em và anh Hiển ở nhà học ngày xưa, số 78 phố Chợ Hôm, được một tuần thì anh Hiển em được bà Tư giới thiệu làm gia sư cho một lũ trẻ của hai gia đình kia họp lại gồm chừng mười đứa. Họ trả năm trăm một tháng. Anh Hiển em không muốn ở lại lâu phiền ông chủ cũ, bèn tìm thuê được gian nhà ở phố Hàng Vôi này, ba trăm một tháng. Bà Tư cho chúng em vay thêm hai ngàn làm số dự trữ, như vậy chúng ta còn cầm cự được ít nhất là ba tháng nữa, tới ngày đó hoặc anh Hiển, hoặc anh, hoặc em có chỗ làm tử tế rồi thi vấn đề kinh tế khỏi phải lo. Thực ra ba anh em mình chỉ cần mỗi tháng kiếm hai ngàn là thừa ăn thừa tiêu.

Miên cười ngẩng nhìn Kha, nàng vội cúi xuống ngay, vì thoàng chạm phải tia nhìn của Kha vẫn theo rõi nàng. Miên có cảm tưởng những điều nàng vừa nói chỉ để nàng nghe mà thôi, nhưng nàng cũng đành phải nói tiếp:

- Khoảng bảy giờ anh Hiển em về, em sửa-soạn làm cơm là vừa, anh đi tắm rửa rồi nằm nghỉ một lát cho lại sức, em may sẵn cho anh bộ pyjama mầu xanh treo ở mắc kia. Cái áo sơ-mi trắng mới nguyên cũng là của anh đó. Gần đây có hiệu may quần tây, rồi anh sẽ tới may một hoặc hai chiếc quần, về đến đây ăn mặc như ngoài kia không được đâu anh ạ.

Miên cúi mặt toan đi ra, nàng bỗng dừng lại vì có tiếng Kha thoáng như tiếng thở dài:

- Vâng cám ơn cô, cám ơn cô nhiều lắm, nhất là số tiền cô đã bán nhẫn, chiếc nhẫn saphir.

Miên mỉm cười ngước nhìn Kha, không dấu được vẻ sung-sướng, nhưng nàng lúng-túng không tìm được lời đạp lại.

Kha tiếp:

- Màu saphir là màu xanh lợt, nhưng chiếc nhẫn của cô màu đỏ hoa lựu thì phải.

Miên cố trấn áp sự bối rối:

- Vâng, nhưng … nhưng… là em muốn nói đó là thứ đá không được quý bằng kim cương.

Thấy Kha im lặng không hỏi gì thêm, Miên cúi đầu vội-vã đi ra…

Kha vừa tắm xong thì Hiển về. Đã được bà Tư, Hiển đi như chạy, chàng gọi tên Kha ngoài cổng. Đôi bạn tri kỷ nắm chặt tay nhau, nhìn nhau cười không thành tiếng và không sao thốt thành lời. Rồi bàn tay Hiển vỗ mạnh lên vai Kha mấy lần, vỗ thật mạnh khiến Kha tuy vẫn cười mà hơi nhăn mặt. Miên đứng trong bếp, tay phải cầm đôi đũa sào nấu, tay trái che miệng dấu nụ cười.

II

Vào thời này ở Hà-Nội xuất hiện một loại chủ kỳ là thường gọi chủ trương, Loại chủ này xuất vốn thuê hẳn một ngôi nhà lớn rồi hắn ngăn ngôi nhà ra thành nhiều căn phòng nhỏ cho thuê lại với giá cắt cổ, bóc lột cả về tiền điện tiền nước nữa.

Chỗ Hiển, Kha, Miên hiện thuê ở, nguyên trước là nhà để xe hơi, không có của hậu, nên ban ngày thì oi bức mà đêm thì bí hơi. Nhà garage này ngăn thành ba gian. Hiển, Kha, Miên ở gian giữa, gian bên phải là tiểu gia đình ông cai Bính, gian bên trái là tiểu gia đình ông ký Thản có cô em gái đương theo trung học.

Ông cai Bình trạc trên bốn mươi tuổi, người cao lớn vạm-vỡ. Ông mới góa vợ được một năm, hai con ông đều học tư thục, đứa con trai lớn mười sáu tuổi học đệ tứ, người con gái nhỏ mười bốn tuổi học đệ nhất. Trước ông làm cai trong nhà máy dệt Nam-Định và là cầu thủ nổi tiếng của đoàn cầu Cotonkin. Nay ông cai đã có tuổi, tuy không còn tung tăng trên sân cỏ, nhưng vẫn còn nặng nợ với nghiệp bóng tròn, mỗi khi có những trận đấu lớn ông vẫn được anh em đề cử chân giám biên. Những ngày đó ông mặc sơ-mi đen, quần sóoc đen, cũng đi giày đinh y như cầu thủ và ông cầm cờ trong sân banh mà chạy lên chạy xuống theo đường biên, ông phất cờ cương quyết như một mệnh lệnh mỗi khi quả da vượt khỏi làn vôi biên. Ông nổi tiếng là một giám biên có lương tâm nhà nghề, rất vô tư. Ông hiện làm ở sở binh như Pháp.

Ông ký Thản (ở gian trái) dáng người mảnh-khảnh, da trắng tinh. Khi còn trẻ chắc-chắn ông có vẻ đẹp rất thư sinh của cái thời xa-xôi nào "Hoa cù hồng phấn nữ, tranh khán lục y lang" nhưng bây giờ đây ông đã năm mươi tuổi, trán khá nhiều nếp nhăn lưng hơi gù, ông tính tình thuần-thục, hiện làm thư ký cho sở Viện-Trợ Mỹ.

Gia đình chủ trương ở gian chính giữa nhà trên, gian đẹp nhất, rộng nhất. Hắn chỉ hơn ba mươi tuổi hơn chút ít, xưa đi lính cho Pháp đóng đội, dáng người lùn thấp, da thiết bì, mắt trắng rã. Khi nói chuyện hắn cố làm ra vẻ thủ-thỉ điềm-đạm, mắt nhìn đi nơi khác, thỉnh-thoảng liếc trộm người đối thoại một cái. Vợ hắn là một mụ béo thấp, bụng lúc nào cũng như có mang được ba bốn tháng mặc dầu mụ tuyệt đường sinh nở từ sáu bảy năm nay rồi. Ca dao ta có câu:

Những người béo trục béo tròn,

Ăn vụng như chớp đánh con rầm rầm

Mụ đúng thuộc loại đàn bà đó-trừ điểm ăn vụng, ngày nay mụ ta giàu rồi, Ba con mụ - môt trai hai gái – đều học trường Tây. Mụ vẫn lớn tiếng mắng con bằng giọng rêu-rao: "Mày học trường Tây mà ngu như bò".

Cùng cánh ở garage với nhau nên Hiển, Kha, Miên quen thân này với hai gia đình ông Cai và ông Ký.

Buổi tối, sau bữa ăn, giọng ông Cai oang oang, ông phê bình những tin tức chiến sự trong ngày bằng một giọng sành-sỏi rất có thẩm quyền khiến nhiều người thoạt nghe đều tưởng trước đây ông là cai lính chớ không phải cai thợ. Khi sắp có một trận cầu lớn (mà thế nào ông cũng được mời giữ chức giám biên) ông phê bình, ông tiên đoán đến một tuần trước. Sau khi làm xong nhiệm vụ giám biên về, ông lại đối chiếu những điều tiên đoán với sự thực vừa xảy ra trên sân cỏ. Có khi lời tiên đoán của ông đúng, những cũng nhiều khi ông vỗ đùi than phiền mấy điểm sai vì ông không dè thằng N. hoặc thằng T đá kỳ này "ma bùn" quá. Ngoài ra ông ưa nhắc lại chuyện mà ông nghe lỏm được của một người bạn đã đang vào đoàn thợ không chuyên nghiệp O.N.S (ouvries non spécialistes) qua Pháp vào năm 1935. Người đó kể- chẳng biết có đúng không – là đã gặp một anh công sứ cũ ở nhà nước nhà bị thải về, thất nghiệp, phải xin một chân gác cửa hotoel. Ông Cai rất tin chuyện đó, mỗi lần nhắc lại ông thường cười kết luận:

- Cho nên tôi vẫn khinh cái giống Tây thuộc địa ở đây, cứ tống cổ chúng nó về nước là biết nhau. Người Pháp thật ở chính quốc, người ta lịch sự nhiều chứ.

Ông ký Thản góp chuyện bằng giọng dẽ-dàng hơn, ông thường bàn về cách trồng cây, cách chăn nuôi, cách nuôi con mà ông đọc được trong sách Mỹ. Nhưng khi nào ông khen Mỹ niều quá thì lại bị ông Cai gạp khéo bằng câu:

- Chẳng qua vận nước mình không may, chứ ông cha mình ngày xưa kém cóc gì ai!

Ít ngày sau Kha muốn về thăm làng. Vẫn bà Tư, khi đó vừa đến chơi, cất lời can gián:

- Cậu mới có giấy thông hành tạm thời, vè làng làm gì vội. Bây giờ đi lại khó –khăn, chợt cái Tây nó về vây làng, lúc đó hối không kịp.

Miên nói:

- Thôi để em về làng báo ông chú cho anh.

Kha gật đầu:

- Vâng, thế thì cám ơn cô.

Miên mỉm cười kin đáo. Có lẽ vì yên chí mình sẽ là vợ Kha nên thái độ của nàng càng điềm-đạm, nhiều khi nàng tự thu nhỏ lại, tê liệt bất động dưới cái nhìn của Kha.

Hai giờ chiều, cùng với giờ mọi người đi làm, Miên đi bộ ra Bờ Hồ lên chuyến xe điện Kim-Liên để về làng Định Quyết. Năm giờ chiều Miên trở lại, ông Hạo – chú Kha – theo sau.

Ông Hạo dựng ô vào góc nhà, chưa kịp ngồi xuống ghế đã kể-lể ngay với Kha:

- Nào chú có biết đâu là anh được ra từ ba hôm nay. Dạo này anh bị giữ ở Gia-Lâm, cô Miên đây có về báo cho chú thím. Chú thím lo quá mà chẳng biết làm thế nào. Anh ra được chóng thế ngày là may lắm. Có người chạy bạc nghìn mà vẫn bị nhốt năm bẩy tháng mới được ra. Có người bị lừa (ông Hạo lắc đầu) thời buổi ma quái này chúng nó nhiều mánh-khóe lừa lắm anh ạ. Có thằng nghiện thuốc phiện chuyên nhận lời nói giúp cho người mới hồi cư bị bắt được tha, nhưng hắn quen ai mà nói. Người ta đến hỏi, hắn khất lần là sắp được, rồi năm bữa nửa tháng sau … hai ba tháng sau…nạn nhân được thả, hắn điềm nhiên đòi lễ. Kẻ nào không nộp đủ khoản tiền đã hứa, hắn dọa sẽ tìm cách bắt giam lại. "Nhất nhật tại tù" ai mà chẳng ngại?

Ông Hạo lắc đầu chép miệng làm cả chòm râu cằm lưa-thưa của ông rung lên:

- Thời buổi ma quái này chúng nó có nhiều mánh-khỏe làm tiền quá!

Kha hỏi thăm về việc mẹ chết hơn hai năm trước đây, về việc chôn cất mẹ, về tin tức làng. Ông Hạo thuật lại tường tận. Ông nhấn mạnh về việc chôn bà giáo cùng một thửa ruộng với ông giáo là sáng kiến của ông.

Sau ngày bà giáo mất, ông Hạo vốn nghèo và hiếm-hoi bán khu đất nhỏ của mình để về ở hẳn nhà ông bà giáo mà trong nom dương cơ cho cháu còn ở hậu phương.

Ông bà Hạo đồng niên với nhau-năm nay cùng bốn mươi tám tuổi – chỉ sinh hạ được một gái đặt tên là Hĩm đã đi ở riêng. Ông Hạo không lấy vợ lẽ, ông thường nói với mọi người cùng làng:

- Chà, con nào mà chẳng là con, miễn có hiếu là được

Nhưng cả làng ai cũng biết là ông sợ bà Hạo mà không dám tính chuyện lấy vợ bé.
Bà Hạo nhanh-nhảu, hiền lành dễ-dãi với mọi người nhưng rất cả ghen và đanh thép với ông. Khi cái Hĩm còn nhỏ thường lấy áo bọc chày giã cua giả làm em rồi ru:
Con cò trắng bạch như vôi
Có ai lấy lẽ bố tôi thì về.
Mẹ tôi chẳng đánh chẳng chê,
Mài dao cho sắc móc mề mà xem.
Bài hát ru đó người ta bảo chính bà Hạo dạy con để gián tiếp cảnh cáo ông Hạo. Có người kể rành mạch hơn là mỗi lần cái Hĩm hát bài đó, bà Hạo lại nhai cho giập miếng trầu vừa đủ nát bét, mầu còn trắng lờ lờ chưa chuyển sang đỏ hẳn, rồi nhổ xuống khoảng chênh –chếch gần chỗ ông Hạo như có ý nói: "Tôi thì nghiền xác nó ra như thế này này".
Kha bảo ông Hạo cởi áo dài để chàng treo trên mắc rồi hỏi:
- À quên chú cho cháu biết cô Hĩm đi ở riêng đã có cháu nào chưa?
Ông Hạo thở dài:
- Ấy lẽ ra thì được một đứa con trai đầu lòng rồi, nhưng tội nghiệp tháng ba năm ngoái thằng bé bị cảm nặng rủi gặp hôm Tây về vây làng để kiểm soát, chúng không cho ai ở nhà cả, thành thử mẹ phải bế con ốm ra đầu đình tập trung. Đến gần chiều cuộc kiểm soát xong, bố nó vội phóng xe ra phố mua thuốc, nhưng muộn quá, hôm sau thằng bé chết.
Ông Hạo ngừng lại một giây như nghẹn-ngào nhưng khuôn mặt vẫn nhẫn nại:
- Thực rõ hoài, thằng bé kháu quá đi mất, giời để làm người bây giờ nó đã biết nói đủ điều rồi đấy!
Hai chú cháu hàn huyên mãi đến khi Miên dọn cơm chiều. Hiển cũng vừa đi dạy học về. Trong bữa ăn ông Hạo luôn luôn khen mừng Kha tốt số:
- Làm sao mà gặp được những người bạn tốt đến thế! (Ông ám chỉ Hiển và Miên).
Một trăm bạc Miên đưa cho ngày nào ở Gia-Lâm, Kha may được chiếc quần tropical, còn lại mấy chục, tối hôm đó Kha mời chú đi xem chèo cổ ở rạp Lạc-Việt (Kha còn nhớ tính chú thích chèo cổ).
Giữa hai màn hát ông Hạo chợt nhớ ra điều gì, nói:
-À anh Hãng con ông phán Nghị cũng đã về Hà- Nội được ba bốn tháng nay rồi đấy, anh biết chưa?
Kha giật mình:
- Anh Hãng về rồi ư hở chú? May quá nhỉ. Hình như một năm trước đây bà phán Nghị có mang cô Thi về Hà-Nội chữa bệnh.
Ông Hạo gật đầu:
- Nay thêm anh Hãng về nữa, chỉ thiệt có ông Phán.
- Sao lại thiệt ông Phán hở chú?
- Ông tự tử ỏ đồn điền Phú-Thọ!
- Ông Phán tự tử?
- Thỉ chính anh Hãng trốn về Hà-Nội báo tin đó cho bà Phán mới hay. Úi chà, được tin dữ, bà nhất định ra hậu phương để mua áo quan chôn cất lại cho chồng "chúng nó có cấm thì hãy giết bà trước đi" – bà nói thế. Ông Phán chết trần truồng không có cả bó chiếu!
Kha cúi mặt thở dài:
- Ông Phán tự tử, điều đó thực cháu cũng thấy làm lạ.
Ông Hạo tiếp:
- Tội nghiệp bà Phán nay chỉ còn xương bọc da. Bà tư lự về việc đó quá, bất kể đêm ngày, hễ sực nhớ đến thảm cảnh bạ lại khóc lóc, kể lể, nguyền rủa. Bà vẫn chưa ra được hậu phương để chôn cất cho chồng vì anh Hãng về kịp thời, khuyên bà hãy nán lại một thời gian, vả hiện giờ bà cũng yếu lắm …Anh đến thăm bà một chút, bà vẫn mở của hiệu ở phố Hàng Vải Thâm.
Suốt màn hát cuối cùng Kha cũng chẳng xem được gì, chẳng nghe được gì. Chàng nhớ ngày ông bà phán Nghị về làng Định Quyết mua lại dương cơ của ông hàn Lợi chênh-chếch đối diện với dương cơ nhà chàng, chỉ cách có con đường xóm. Ông bà Phán thay phiên nhau có mặt ở làng, bà thu xếp bày biện nhà cửa bên trong, ông tu chỉnh bên ngoài, sửa lại hàng rào găng, giồng thêm các loại hoa và rất nhiều cây ăn quả. Rồi chủ nhật, ngày lễ, lũ con cháu ông bà Phán về quê hóng gió đồng; con trai con gái lớn của ông bà còn kéo thêm nhiều bạn học khác. Tuy mới tới ngụ cư, nhưng ông Phán đã hiền lành lại chịu khó, bà Phán thì khéo, lũ con cháu vui, ngoan nên gia đình ông Phán sớm chiếm được tình cảm của người lân cận, chỉ một năm sau dân làng Định-Quyết coi gia đình ông Phán như những người chính thức, đã đến định cư tại đây mấy đời rồi.
Ông giáo mất, bà giáo giao thiệp với bà Phán như tình hàng xóm thân thiết "bán anh em xa, mua láng giềng gần". Nhưng cũng phải đến vụ hè năm đó Kha mới thật quen Vân và … và tới ngày đầu xuân kia …
Kha chợt ngửa đầu lên thành ghế mỉm cười xa- xôi.
Tấn hát đến đoạn chót lâm ly, đưa mắt thấy Kha mỉm cười ông Hạo không hiểu sao cháu mình lại cười được vào đoạn này. Tiếng vỗ tay của cả rạp. Mấy bà mấy cô ở hàng ghế trước lấy khăn tay kín đáo chấm nước mắt, kín đáo hỉ mũi.
Ra khỏi rạp hai chú cháu lên một xe xích lô. Ông Hạo nói:
- Thôi chú ra thăm anh, thấy anh khỏe mạnh yên lành chú mừng, mai chú về sớm.
- Vâng-Kha đáp-chú về chú bảo thím cháu đừng phải ra đây. Chú gặp bà ngoại cháu, chú gặp các cô, dì, chú bác cháu, xin chú cứ nói là cháu gửi lời hỏi thăm, đừng ai phải ra đây thăm cháu. Được nhà Công – An phát thẻ căn cước xong, cháu tức khắc sẽ về làng thăm tất cả họ xa họ gần.


Last edited by LDN on Sat May 21, 2022 8:00 am; edited 5 times in total

_________________
I stand with Ukraine

Cầu nguyện cho Ukraine
LDN

LDN


Back to top Go down

Thumb up Re: Khu rừng lau - Doãn Quốc Sĩ

Post by LDN Sat May 21, 2022 7:24 am

III

Hai chú cháu ăn sáng ở hiệu phở Đông Mỹ ra Kha đưa ông Hạo lên tầu điện Kim-Liên để về làng, rồi chàng thong -thả ngược đường Hàng Đào, tạt ngang Hàng Bồ, rẽ sang phố Hàng Vải Thâm.

Ngôi hàng cũ của bà phán Nghị ở phố Hàng Vải Thâm xưa sầm uất là thế mà nay trong lèo-tèo xơ- xác, thực họa vô đơn chí. Bà Phán đương cặm-cụi xếp lại mấy xúc vài trong tủ kính. Đúng như lời ông Hạo nói bà chỉ còn da bọc xương.

Kha bước vào cửa, chàng vẫn giữ cách chào thân mật ngày xưa:

-Lạy bác ạ

Bà Phán giật mình quay lại. Qua đi một giây định thần bà nhận ra Kha ngay. Bà có dáng vồn-vã được gặp Kha, nhưng vẫn không quên và không đáu nổi nỗi đau đớn của riêng bà. Khép vội cửa kính lại bà nói:

-Kìa anh Kha, ngỡ ai. Bác chẳng được tin gì anh từ cái ngày anh cùng anh Tân dời khỏi đồn điền nhà bác.

Hai hàng nước mắt ứ lên tuôn ròng ròng chảy ngoằn-ngoèo xuống khoảng má hóp của bà, đồng thời những vết nhăn trên trán bà bỗng chuyển động cho sâu hơn như thể khép chặt lấy những gì là sầu khổ bên trong. Bà nói:

-Bác giai chết mất rồi cháu ạ, bác bị bức tử, bác chết chôn trần như nhộng có khổ không cháu ơi. Bác có ngờ đâu gia đình vận hạn đến thế.

Kha chưa biết nói-năng ra sao thì bà Phán đã lớn tiếng gọi con sen ra trông hàng thay, bà mời kha vào trong nhà rồi trong khi bà mởi tủ lấy trà pha nước, bà hỏi Kha theo thứ tự thời gian ngược lại: Kha hiên làm gì, ở đâu? Kha về Hà-Nội ngày nào? Kha về Hà-Nội bằng đường nào, cách nào? Trước khi đó chàng ở đâu?

Mãi nửa giờ sau Kha mới hỏi được một câu về Hãng và Thi. Bà Phán trả lời:

-Em Hãng về đây được bốn tháng rồi anh ạ. Vì thương tôi tuổi già, em nó đi làm để kiếm thêm đỡ-đần. Em nó làm được ngót hai tháng, rồi em nó cũng đến thôi, công việc này đi làm xa lắm, em nó ngại.

- Thưa bác thế còn em Thi?

- Em Thi, vâng…

Bà Phán chép miệng ngừng lại ở đây. Người chết làm bà thắc-mắc nhiều là ông Phán, người sống phải làm bà thắc-mắc nhiều là Thi, Bà tiếp:

- Vâng em Thi… Cứ bảo về Hà-Nội sẵn thầy sẵn thuốc mà nào có khỏi hẵn. Kể ra đầu năm vừa rồi em nó khá lắm, bác đã mừng, đánh đùng cái, khi được tin dữ về bác giai, nó thét lên "Ba ơi" rồi ngất, bệnh cũng đùng đùng trở lại, một tuần sau lại ho ra máu. Mất bao nhiêu tiền bác sĩ mà nay xe ra nó cũng chỉ gọi là khá hơn chút ít. Người ta khuyên em nên sống chỗ thoáng khí bệnh sẽ lui dần. Bác cho em nó về trong quê, mượn một con nhỏ vừa để đỡ-đần vừa để ở với em làm vui.

- Nhưng thưa bác thỉnh-thoảng em Thi có ra đây thăm bác?

Bà Phán gật đầu:

- Có anh ạ, thỉnh-thoảng em nó có ra, nhưng thường chỉ ở chơi đến chiều là về. Phải ngủ ở quê cho yên tĩnh, không khí trong sạch. Buồn thì cũng phải chịu vậy chứ sao, vả lại bác cũng về trong quê luôn mà. Hàng họ ế-ẩm, buôn bán khó-khăn, mình lại chẳng trường vốn như xưa, bác có thể cứ để con sen nó trông hàng mà ở trong quê cả ngày cũng được. Gia đình vận hạn đen-đủi đủ đường!

Biết là câu chuyện chẳng thể nào xoay sang cho vui-vẻ đôi chút được, Kha đứng dậy xin phép về, hứa hàng ngày sẽ lại thăm bà để rồi còn gặp Hãng gặp Thi. Bà Phán tiễn chàng ra tận cửa hiệu. Bà đứng nhìn theo Kha khuất sau phố Hàng Bát Đàn rồi mới quay về ngồi bên quầy hàng. Từ xưa bà vẫn có tình cảm đặc biệt với Kha. Nhiệt tình giữa Kha và Vân bà không hề biết, nhưng bà vẫn có ý nghĩ là tất nhiên bà giáo sau này sẽ hỏi Vân cho Kha để hai nhà thông gia. Thốt nhiên bà chép miệng… Chiến tranh bùng nổ…rồi về đồn điền…rồi Vân lấy viên chủ tịch huyện Thanh Ba…Nhỡ nhàng cả!

Hôm sau vào giờ Hiển phải đi dạy lũ trẻ, Miên đi nộp đơn xin vào làm tại nhà thương Phủ-Doãn, Kha thủng-thẳng đến phố Hàng Vải Thâm.

Bà Phán thoáng thấy chàng, ánh vui lộ trên nét mặt. Bà nói:

-Em Hãng nó về từ sáng nay. May quá, nó cứ lồng-lộn muốn gặp anh mà bác lại quên mất địa chỉ anh dặn hôm qua.

-Kha đấy phải không? Vào đây mau lên!

Kha khẽ cúi đầu xin phép bà Phán rồi đi thẳng vào, hơi ngạc nhiên ở điểm Hãng nóng ruột muốn gặp chàng mà sao không chạy ra đón. Hãng vẫn nằm sõng-sượt trên giường có buông màn. Vén màn lên, Kha chui vào và khi thấy Hãng xiết chặt tay mình Kha mới yên chí là Hãng nóng lòng gặp mình thật. Hãng mặc pyjama ròng-rọc xanh, dáng người vẫn vạm-vỡ, nhưng đôi mắt buồn, rất buồn. Kha ngả lưng nằm ngay bên Hãng bắt đầu nói chuyện, Kha hết sức tránh không nhắc chuyện xưa. Nhắc lại làm gì, thấy nhau ở đây há chẳng đã là nói đến lời tâm sự cuối cùng rồi sao? Kha không hỏi về sức khỏe của Thi và đời sống của Vân từ ngày theo chồng về ở hẳn cơ quan hành chính… Nhưng khi Kha hỏi về công việc Hãng làm bây giờ, giọng Hãng trở nên công phẫn:

-Nhục

-Việc gì kia chứ?

Hãng nói như không hề chú ý đến câu gặng hỏi của Kha.

-Cũng may chỉ còn hơn một tháng nữa là hết contrat.

Rồi Hãng vùng đứng dậy thay quần áo và bảo Kha:

-Rồi để tôi giới thiệu cậu với thằng An, cậu dạy thay tôi. Nào chúng ta đi ngay cho kịp.

An cũng là con nhà giầu, bạn cũ của Hãng, biết nhau từ ngày Hãng mới ở Pháp về. Hiện là hiệu trưởng một trường tư thục khá lớn tại Hà-Nội, An muốn Hãng phụ trách lớp Pháp văn cho mấy lớp trung học. Vì contrat còn hơn một tháng nữa mới hết nên Hãng đưa Kha lại giới thiệu cho An. Họ là bạn bè trẻ, thâm hồn thẳng-thắn, cởi mở, nên sự thông cả có ngay từ phút đầu nói chuyện. Trông gương mặt Kha An hiểu con người đó chắc- chắn không thể phụ lòng tin của chằng mảy-may.

Kha sẽ phụ trách từ tuần sau Pháp Văn cho hai lớp Việt Văn, lương tháng trên ba ngàn. Kha mỉm cười nghĩ đến lời Miên nói ngày nào chàng vừa ở nhà giam ra: "…ba anh em mình chỉ cần mỗi tháng kiếm được hai ngàn là thừa ăn thừa tiêu".

Ở nhà An ra, Kha đưa Hãng về phố Hàng Vôi giới thiệu với Hiển và Miên. Đó là lần đầu tiên Hãng, Hiển, Miên gặp nhau.

Miên e lệ đề nghị với Hãng:

-Thưa anh, để mời anh ở lại sơi cơm chiều chúng tôi một thể.

Thoáng suy nghĩ, rồi Hãng đáp:

-Thế này tiện hơn, cả bốn chúng mình đi ăn chim quay Siêu-Nhiên. Cho tôi được cái hân hạnh đặt tiệc trình diện!

Hãng cười trước, rồi cả bốn cùng hòa theo thỏa-thuận.

Trước đây Hãng bộc tệch gà tồ như Tây con, qua sự đau khổ của chính bản thân anh ở hậu phương, qua sự đau khổ của cả gia đình anh trong cơn vận nạn, lại sự dằn vặt của chính anh hiện giờ vô ý chui vào làm nơi không hợp, Hãng đã biết tự đào sâu tình cảm để cử chỉ và ngôn ngữ tuy vẫn giữ được dáng-đấp gà tồ cố hữu nhưng trầm xuống và đậm-đà ý nghĩa lên nhiều.

Hôm đó, chiều thứ bảy, bốn người ra đi vui-vẻ. Trong bữa ăn ba người đàn ông không quên nhắc lại câu chuyện và khung cảnh Phụng-Minh-Thôn là nơi họ đã từng sống và chứng kiến những cảnh hãi-hùng bi đát…

Ăn xong Hãng kéo mọi người vào xi-ne. Mười hai giờ khuya Kha, Hiển, Miên mới về đến nhà. Tuy không nói ra nhưng cả ba đều cảm thấy đời họ bắt đầu sang một khúc quành mới mà họ hy vọng là sẽ sáng-sủa hơn.

IV

Bảy giờ sáng hôm sau, tiếng ông cai Bính oang oang ngoài sân đánh thức mọi người. Ông nói với mụ chủ trương:

-Tôi nói cho bà biết tiền điện tháng này không thể nhiều thế.

Tiếng mụ chủ trương muốn làm già:

-Ý cụ định bảo tôi ăn gian à?

Vẫn tiếng ông cai oang oang:

-Bà ăn gian hay không thì bà với giời biết, tôi chỉ biết chắc-chắn tháng này tôi dùng điện không hơn gì tháng trước, có phần kém là khác, vậy không có lý do gì tôi phải giả cao hơn.

Tiếng anh chồng gọi vợ (hắn nấp sau khe cửa nhìn ra):

- Thôi mình vào đi, cụ giả bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu.

Tiếng ông Cai càng như lệnh vỡ:

-Ông nói như vậy là không được, tôi không phải là thằng bủn xỉn đáng bốn mươi năm đồng bạc điện mà chỉ vì có ba mươi đồng. Tôi giả ba mươi đồng như tháng trước là thừa đủ với số tiền tôi tiêu thụ.

Anh chồng:

-Vâng, vâng thì nào tôi có dám nói gì.

Đương đà hăng, công cai Bính chưa chịu ngừng, ông tiếp:

-Ông bà chủ trương biệt thự này đã lợi nhiều thứ rồi, ông bà chỗ cao chỗ rộng chẳng mất đồng xu nào, chúng tôi ở cái nhà garage nóng bỏ mẹ ấy.

Vẫn nấp sau khe cửa nhìn ra, anh chồng nói giọng ôn tồn hơn nữa:

-Vâng, vâng, thưa cụ thì nào tôi có dám nói gì.

Rồi quát vợ:

-Tôi đã bảo mình vào mà!

Kha lúc đó vừa mở cửa ra sân, ông Cai ghé tai chàng nói thì thầm nhưng cũng để ông ký Thản đứng cách đấy mươi bước nghe rõ:

-Ông giáo ạ (ông Cai vẫn gọi cả Hiển và Kha là ông giáo) tôi còn lạ gì con mẹ đó tẩy số tiền điện đi rồi tăng lên.

Kha gật đầu hưởng ứng:

-Vâng cụ trực tính nói thế là phải.

Vì thấy ông Cai vẫn thường gọi mình là "ông giáo" nên khi giao thiệp Kha vẫn gọi ông là "cụ". vả mốt của Hà-Nội ngày đó cứ bốn mươi tuổi trở lên đã có thể được tôn lên "cụ" rồi.

Vừa kéo Kha vào nhà ông cai Bính vừa chép miệng:

-Ông giáo ạ, tôi phải cái tính nóng, hễ lúc nổi nóng lên thì cứ nói cho sướng cái mồm đã, nhưng nói xong lại hối. Kể vợ chồng nó ăn cắp một tí tiền điện có là bao. Ông giáo tính ở đời này có biết bao thằng ăn cắp tầy trời ấy chớ. Vừa rồi mở cửa chợ phiên ở Ấu-Trĩ-Viên, mấy thằng chóp bu ăn lễ ngập mặt của Tàu rồi cho chúng mở sòng tài sửu đề biêt bao gia đình tan nát, mấy đám tự tử bằng thuốc độc, mấy đám nhảy xuống hồ Tây, ông giáo bảo thế có ăn cắp à? Thằng Tây ăn cắp nước của chúng ta từ tám mươi năm nay đương thì bị thằng Quốc –Tế-Cộng –Sản ăn cắp lại. Mấy thằng chính khách quốc tế tuyên bố ấm-a ấm- ớ chỉ rình đục nước béo cò cũng là những thằng chúa ăn cắp.

Ông cai bỗng thừ người dáng uể-oải hẳn như một cầu thủ đã thấm mệt lúc sắp mãn cuộc đấu, ông ghé lại gần Kha hơn tiếp:

-Ông giáo ạ, chúng nó ăn cắp hết! Tôi vì sinh kế làm cho sở Binh-Nhu Pháp, đồng lương chẳng được là bao, nhưng tôi cũng đủ tiền nuôi hai con tôi ăn học, đủ cả quần áo, giày dép để diện, mô-by-lét để làm vì…(ông cai hạ giọng hơn nữa) ông giáo ạ tôi cũng ăn cắp (giọng ông trở lại bình thường) nhưng cái ăn cắp của tôi khác. Thằng Tây ăn cắp của mình, tôi làm cho thằng Tây vì sinh kế, tôi cuỗm lại của nó, cuỗm càng khéo, càng nhiều, càng hay: như vậy chỉ là tôi tước lại một phần nhỏ nào những của cải mà thằng Tây nó ăn cắp của mình. Như vậy thì tôi không phải là ăn cắp!

Kha gật đầu mấy cái để tỏ là đồng ý với ông cai về ở điểm "cuỗm càng khéo, càng nhiều, càng hay". Kha lại lắc đầu mấy cái để tỏ rằng chàng đồng ý ở điểm "như vậy thì ông cai không phải là ăn cắp", rồi Kha nói:

-Cụ nói đúng lắm, đúng lắm!

Ông cai dang rộng hai cánh tay:

-Đấy có phải không ông giáo?

Rồi ông ôn tồn tiếp:

-Ông giáo ạ, lắm lúc nhìn đời, tôi muốn về làng tậu mẹ nó mấy thửa ruộng, rồi cày cấy chăm nuôi lấy mà ăn, quanh mình ông chú bà bác, ông cậu bà dì, anh em thân thuộc toàn là những người chân phương thật-thà, thế lại hay. Nhưng chết cái, không được ông giáo ạ, các người ở vùng quê mình dạo này khổ lắm. Ừ thi mấy thằng Việt-Minh giết chết mấy thằng Tây thực dân, rồi mấy thằng Tây thực dân lại giết chết mấy thằng Việt-Minh chết tiệt phản dân hại nước, chúng nó cứ việc giết lẫn nhau cho đến khi cả hai bên cùng chết cả, như thế còn gì bằng! Nhưng cái thằng bỏ mẹ Việt –Minh lại cắn trộm thằng Tây mấy cái, thằng Tây nổi khùng nhảy sổ lại đánh, thì đầu chẳng phải tai, chỉ chết dân, khổ thế!

"cuỗm càng khéo, càng nhiều, càng hay". Kha lại lắc đầu mấy cái để tỏ rằng chàng đồng ý ở điểm "như vậy thì ông cai không phải là ăn cắp", rồi Kha nói:

-Cụ nói đúng lắm, đúng lắm!

Ông cai dang rộng hai cánh tay:

-Đấy có phải không ông giáo?

Rồi ông ôn tồn tiếp:

-Ông giáo ạ, lắm lúc nhìn đời, tôi muốn về làng tậu mẹ nó mấy thửa ruộng, rồi cày cấy chăm nuôi lấy mà ăn, quanh mình ông chú bà bác, ông cậu bà dì, anh em thân thuộc toàn là những người chân phương thật-thà, thế lại hay. Nhưng chết cái, không được ông giáo ạ, các người ở vùng quê mình dạo này khổ lắm. Ừ thi mấy thằng Việt-Minh giết chết mấy thằng Tây thực dân, rồi mấy thằng Tây thực dân lại giết chết mấy thằng Việt-Minh chết tiệt phản dân hại nước, chúng nó cứ việc giết lẫn nhau cho đến khi cả hai bên cùng chết cả, như thế còn gì bằng! Nhưng cái thằng bỏ mẹ Việt –Minh lại cắn trộm thằng Tây mấy cái, thằng Tây nổi khùng nhảy sổ lại đánh, thì đầu chẳng phải tai, chỉ chết dân, khổ thế!

Kha gật đầu:

-Khổ thật, người dân mình khổ thật, những lời nhận xét của cụ thật chí lý. Thoáng thấy Hiển, Miên đã đậy rửa mặt, Kha xin phép ông cai về buồng.

Ông cai thủng-thẳng ra sân thở phảo một tiếng, dang tay ưỡn người như để xua cho hết nỗi bực dọc chứa-chất trong lồng ngực ra, rồi ông cất giọng oang oang:

-Chà tôi muốn về quê quá đi mất!

Và từ đấy cứ mỗi lần bất bình với cuộc đời ở chốn phồn-hoa đô-hội này, công cai lại nói lớn, giọng sách-mé như chửi đổng: "chà,tôi muốn về quê quá đi mất!"

V

Câu nói lớn của ông cai cũng là câu nói thầm trong bụng của Kha:

-Chà, tôi muốn về quê quá đi mất!

Kha đã đi dạy học được một tháng và chàng cũng đã tới trình diện Nha Công-An, nhưng ở đây họ chỉ gia hạn giấy thông hành tạm thời chứ chưa cấp thẻ căn cước. Kha chưa dám ra khỏi Hà-Nội vì thế.

Phải về thăm quê chứ! Cứ nghĩ mình về Hà-Nội được hơn một tháng mà chưa về thăm quê, Kha thấy thực vô lý. Chàng ghi tên theo Đại –Học Văn –Khoa. Còn nhớ sau cuộc cách mạng tháng tám giành được độc lập, một số học giả, nhà văn, nhà thơ có mở ngay Văn-Khoa tại đại-học-đường, để phát huy tư tưởng học thuật dân tộc, nhưng ngành đại học này chưa hoạt động được trọn niên khóa thì kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Gần đây một số học giả vùng quốc gia ý thức được sự cần thiết của "ngành linh hồn nền đại học dân tộc" đó, bèn nương theo lời tuyên bố huênh hoang của chính quyền bù nhìn mà tương kế tựu kế xin mở lại Đại-Học Văn-Khoa. Cả giáo sư lẫn sinh viên đều ý thức được tầm quan trọng và sự khó-khăn ban đầu của ngành này nên mọi người tìm đến nhau với tinh thần thân hữu cởi mở vô cùng. Hơn nữa lớp sinh viên mấy niên học đầu đều đã tới tuổi đứng đắn, cỡ xấp xỉ "tam thập nhi lập". Chính lúc Kha tới đây ghi tên, chàng gặp một số người bạn cũ, xưa cùng học với chàng dưới trung học và cũng vì cuộc kháng chiến mà việc học bị gián đoạn. Giảng đường Đại-Học Văn-Khoa được viện trưởng (người Pháp) dành cho dẫy nhà thấp phía bên, nơi trước đây quân Nhật nhốt ngựa. "Đại-học chuồng ngựa" là lời riễu đương thời (lẽ tất nhiên thực dân Pháp không ưng gì người Việt phát triển ngành quốc học này) những lời riễu đó càng là chất kích thích cho cả giáo sư lẫn sinh viên.

Trong khoảng thời gian này ông Hạo có ra thăm chàng hai lần nữa. Vì Kha đã bắt đầu kiếm được tiền nên hai lần sau này mâm cơm thết (do Miên làm) hậu-hĩ lắm và lần nào, tối đến Kha cũng mời ông Hạo đi xem chèo cổ ở rạp Lạc-Việt.

Vợ chồng cô Hĩm cũng ra thăm Kha một lần và nói rằng anh em bà con trong làng ai cũng nóng lòng được gặp "bác giáo". (Trong câu chuyện, vợ chồng cô Hĩm tự xưng "em" và gọi Kha là "bác giáo", đúng kiểu xưng hô của miền quê giữa những người đã trưởng thành).

Tuy là bước đầu Kha vào nghề dạy học, bài giảng của Kha bao giờ cũng cố cho dồi-dào ý kiến, chàng trích dẫn những tỉ dụ linh động hấp dẫn lấy ngay ở cuộc đời hay những tác phẩm nổi danh quốc tế. Kha chú trọng nhất là sao cho lũ học sinh khỏi bị nô lệ vào tư tưởng của bài văn, trái lại biết nương vào bài văn đó để thẩm định lại mọi ý nghĩ của mình và của người. Trong những cuộc mạn đàm thân mật với An (ông hiệu trưởng) Kha không dấu sự ghê tởm của chàng trước những phương pháp tuyên truyền ngày nay theo kỹ thuật "tha nhân ám thị" với những khẩu hiệu, truyền đơn, biểu ngữ nhồi vào óc, nhồi vào tai, nhồi vào mắt, chúng làm tê liệt trí thông minh, đàn áp nhân phẩm, hủy diệt tự do.

Nghe những lời phê bình quá thẳng-thắn đó đã có lần An bảo Kha: "Anh không bao giờ làm chính trị được, tâm hồn anh là một nhà làm bằng kính".

An quý Kha lắm, nghĩ về Kha, An còn có hình ảnh khá ngộ-nghĩnh mà An chỉ nghĩ thầm trong bụng: "Con người ấy cho dẫu có dìm sâu xuống bùn chỉ để hở mỗi đôi mắt, và chỉ cần nhìn thấy đôi mắt ấy thôi, người ta cũng biết mình đương đứng trước một người ngay thẳng.

Cũng kể từ ngày đi dạy học, Kha ít có thì giờ đến thăm bà Phán. Hãng thì tời thăm Kha luôn thỉnh thoảng-thoảng vào dịp đi vắng vài ngày Hãng đến báo cho biết trước. Tuy nhiên cho đến giờ, Hãng làm ở đâu chính Kha, Hiển cũng không biết, và chẳng cần biết, nhất là Kha, chàng thấy rõ Hãng luôn luôn lẳng tránh mỗi khi câu chuyện có thể đưa đến câu hỏi đó.

Đã hơn một tháng gần Miên! Những ngày còn ở trong nhà giam, Kha nghĩ hễ được tha, chàng sẽ thú thực, lòng quý mến của chàng với Miên ngay. Nhưng đến nay chàng thấy không cần. Chàng cho rằng cách sống hợp với chàng nhất và xứng đáng với tình bạn của Hiển, nhất là thẳng-thắn coi Miên như em, rồi khi hoàn cảnh thuận tiện, sẽ thẳng-thắn hỏi Miên làm vợ.

Cuối tháng vừa rồi lĩnh lương hơn ba ngàn, Kha đưa cả cho Miên làm thủ quỹ, rồi mỗi khi chàng và Hiển cần tiêu món gì lại hỏi Miên, điều đó không đủ là một lời hứa hôn sao?

Ba ngày trước đây Kha có tạt vào thăm bà Phán. Bà nói:

-Tuần nào em Thi cũng ra đây một lần. Em có hỏi thăm anh.

Kha nghĩ thầm nếu chàng về làng, chàng sẽ sang thăm Thi ngay. Ôi, chàng quên sao được kỷ niệm ngày đầu chàng hôn Vân đến thác loạn tâm thần, ngày đó Thi còn nhỏ xíu…Ngày chàng dời đồn điền, Thi mới mười tám. Tới ngày nay ồ tính ra Thi đã hai mươi ba tuổi, dễ thường bằng tuổi Miên, vậy thời Thi đã trưởng thành rồi, chẳng biết trông Thi có khác xưa nhiều?

Sáng nay không rõ bực dọc điều gì ông Cai lại ra sân dang tay, ưỡn ngực:

-Chà tôi muốn về quê quá đi mất!

Phải về thăm quê chứ! – Kha nghĩ thầm như vậy. Chàng muốn về quê ra đồng thăm mộ mẹ, chàng muốn về thăm làng cũ, gặp bà con anh em, những người chân phương thật-thà, chàng muốn về quê nhìn lại căn nhà cũ và sang thăm Thi một chút…Nhưng điều cốt yếu là đến đứng dưới mái hiên nơi chàng ôm Vân lần đầu.

Thế là tới ngày chủ nhật tuần đó, trong khi Hiển đưa Miên đi gặp mấy người quen để hỏi về đơn xin của Miên và nhà thương Phủ-Doãn sao chưa được chấp thuận. Kha nhất quyết một mình về làng tuy chàng chưa có thẻ căn cước.

Ngày hôm đó trời bỗng nhiên vẩn mây, gió hiu-hắt. Người ta cho Kha biết Tây thường về vây các làng vào lúc gà gáy rồi kiểm soát cho đến trưa, chàng bèn đợi đến chín giờ sáng mới ra bến xe điện mang theo một cái cặp trong đựng vài thứ quà. Xuống xe điện ở Kim-Liên, đi một quãng nhỏ nữa, rẽ vào con đường đồng bên trái, Kha đã trông thấy cây si, lũy tre thưa và cổng làng loang-lổ xiêu vẹo. Tới gốc si đầu làng, nhân vắng bóng người, chàng dừng lại ngắm cảnh chung quanh rồi ghé mắt nhìn theo con đương chính từ cổng hút vào.

Kha mới xa Việt-Bắc có hơn một tháng nay, khu cảnh rộng lớn của núi rừng cong nguyên vẹn trong trí. Về tới Hà-Nôi nơi hoàn toàn do bàn tay người tạo tác, nhưng số người đông, số nhà đông, số đông đánh lừa được cảm giác của Hà-Nội với cảnh núi cao rộng của Việt-Bắc. Nay về tới đầu làng, ngắm làng nằm giữa thiên nhiên, Kha chụp ký ức thiên nhiên Việt-Bắc vào làng và chàng thấy làng nhỏ xíu đến tức cười. Ngày xưa con đường chính của làng sao mà dài, gò lưng phóng xe ngoẵn-ngoèo mãi mới tới nhà; giờ đây cũng con đường ấy trước mắt Kha sao mà nhỏ, hẹp tưởng chỉ cần bước mấy bước là đã đến ngay cổng chùa cuối làng. Nhà của hai bên đường tuy có chiều đổ nát nhưng vẫn còn đủ, xưa kia hai dãy nhà đó sầm uất biết bao, nay trông lại Kha bâng-khuâng có cảm tưởng tất cả những dãy nhà đó, tất cả những đường ngang lối dọc kia đều như bày như đắp trên…sa bàn và chính Kha cũng vừa biến thằng bé tí con để hợp với trò trẻ con đó.

Kha chui vào cổng làng, đặt bước đầu tiên trên con đường chính lát gạch xếp nghiêng. Kể từ lúc đó chàng luôn luôn chỉ đi được vài bước phải dừng. Các ông chú bà bác, anh em trọng họ ngoài làng hầu như từ hai bên đổ ra, từ phía trước lại liên tiếp...liên tiếp…Nào những lời thăm hỏi, nào những lời ôn qua chuyện cũ, nào những lời trách móc thân mật… Tới đâu chàng cũng thấy đấu vết chiến tranh sự hàn gắn tuy có nhưng chỉ tạm bợ. Thêm một điều lạ: mọi người đua nhau để râu dài. Nhiều anh em cỡ tuổi Kha để râu quai nón xồm-xoàm trông đến hay. Mãi về sau Kha mới vỡ lẽ: sự cố tình già nưa như vậy là để khỏi bị Tây bất chợt về làng bắt đi phu. Vào trường hợp đó, nạn nhân chỉ vào bộ râu nói: "Moi, vieux notable!" (Tôi là kỳ mục già nua mà!) May thì được tha.

Người đầu tiên kha gặp là ông Toán. Ông Toán tay cầm quạt lông ở trong hàng nước đầu hàng bước ra. Ông trạc năm mươi tuổi, râu dài và rậm, loại râu mà người làng làng Định-Quyết vẫn gọi là "râu sàm Tào-Tháo". Hồi còn trẻ ông có tiếng là "mày râu nhẵn-nhụi áo quần bảnh-bao". Người làng ai cũng biết chuyện hồi đó ông Toán có hỏi cô Nai (tên tục mẹ Kha) hoa khôi của làng nhưng bị cô từ chối, chê là trọc phú. Cô ưng lấy chàng thư sinh gia tư bậc trung tên là Lãm mà sau này thi đỗ được bổ làm giáo viên tiểu học, dạy học năm năm ở trường phủ Hoài-Đức, rồi duổi Tuyên Quang dạy hơn hai mươi năm nữa, ngày gần về hưu thì mất ở đó.

Bị thất tình, ông Toán bắt đầu đọc truyện Kiều và thuộc rất nhiều đoạn.

Ông đã lấy vợ và có nhiều con mà vẫn còn nhắc đến hận xưa. Thấy bà giáo hiếm-hoi, sinh nở mấy lần mà rồi chỉ còn được có Kha, ông thường nói: "Giá lấy mình có phải con cái đầy đàn không". Thỉnh-thoảng gặp Kha – hồi Kha còn nhỏ -trên đường làng, ông Toán thường chỉ vào mặt hỏi:

-Có phải mày là thằng "Tuyên" con giáo Lãm?

Kha sinh ở Tuyên-Quang nên ông Toán nhất định gọi Kha là "Tuyên", ông làm như không hề biết có tên Kha và cho rằng ông có quyền đặt tên Tuyên" cho con ông giáo Lãm, ông lại đinh ninh rằng rồi đây cả làng sẽ công nhận cái tên đó.

Ông đã đứng tuổi, vẫn tiếp tục đọc Kiều, thuộc có thể nói gần trọn quyển và nảy ra tính thích đố Kiều. Ngày ngày sau bữa cơm, ông phe-phấy cái quạt ra hàng nước, ông đọc một câu tám chữ và thách người nghe đọc ngay câu sáu chữ ở trên.

Khi vừa bước qua cổng làng, Kha nhận ngay ra ông và ông cũng nhận ra Kha ngay. Mặt ông đỏ gay, ông nói sặc mùi rượi. Ông chỉ vào mặt Kha:

-Có phải anh là thằng Tuyên con giáo Lãm ở xóm chùa? (ông phất cái quạt lông về phía trước). Trông anh tôi biết ngay là thằng Tuyên!

Ông kéo bừa Kha vào hàng. Bà hàng và mấy người có mặt trong làng lúc đó đều là bà con gần họ xa cả. Kha lễ phép cúi chào tất cả mọi người. Ông Toán nắm độc quyền câu chuyện. Ông vừa phe-phẩy quạt vừa nói với "Tuyên" là ông chán đời, chán "anh Hồ" lừa dân bán nước (đã từ một năm nay có đồn binh Việt-Pháp đóng ở cánh đồng cuối làng nên những dư luận loại đó nói công khai mà không sợ). Ông chán cả mấy anh "chó chết" trong vùng quốc gia cũng lừa dân bán nước. Ông nhắc lại cho "Tuyên" nhớ-tuy chàng vẫn nhớ lắm – trước đây ông là một trong những người giàu có nhất làng. Rồi ủng hộ "anh Hồ", rồi ba năm tản cư, rồi đến khi "biết thừa" cộng sản – tuy là mãi đến ba năm sau mới… "biết thừa" – ông hồi cư, thì gia sản mười phần còn một. Giờ đây ông chỉ còn hơn hai mẫu ruộng tốt và một ao thả cá mè. Ông chẳng ham làm giầu như ngày xưa nữa, ông uống rượu cho mát phổi – ông bảo thế - và cho quên sầu. (Thực dân còn nắm chính quyền kia, rượu đâu có thiếu!) Mỗi ngày hai bữa túy lúy! Ông còn rắp tâm hút thuốc phiện nữa (thứ này càng không thiếu) nhưng cũng là may cho ông – và không may cho thực dân – ông lại sáng suốt nhận thấy rằng ông đã sa-sút, số gia sản ít ỏi còn lại kia không cho phép ông lao mình vào khói thuốc để quên sầu.

Thấy câu chuyện tâm sự của ông đã vời-vợi, Kha chào ông, chào mọi người. Vừa bước ra khỏi cửa hàng, chàng đã nghe tiếng ông ngâm vang:

Tấm riêng riêng những nặng vì nước non

Tiếp theo là giọng thách thức:

- Tôi đó các ông, trên câu đó là gì?

Kha thấy bà Nụ dường như vô tình tiến về phía chàng. Bà Nụ là cô họ chàng. Kha còn nhớ hồi còn nhỏ mỗi dịp hè hay mỗi dịp giỗ tết, họp mặt đông đủ, chàng vẫn được bà Nụ quý và chiều nhất trong hàng các cháu. Tuy rất nghèo nhưng chẳng lần nào gặp Kha bà không móc túi lấy ra cho cháu một trinh Khải-Định hay ba đồng Bảo-Đại. Có lần bà móc mãi chỉ thấy có đồng trinh Minh-Mạng - thứ tiền này gờ mép rộng hơn trinh Khải-Định và tiêu không được – Bà cũng ân cần trao cho Kha và Kha cũng sung-sướng nhận lấy, rồi cả hai cô cháu cùng hỉ-hả chẳng kém gì mấy lần trước.

Tiến tới gần Kha, bà Nụ nheo mắt – bây giờ mắt bà kém rồi – bà chợt phá cười, chỉ vào mặt Kha, y như ông Toán chỉ vào mặt chàng khi nãy, bà nói:

-Cái thằng bé kia, cháu cô!

Kha cười:

-Cô ơi, cháu cứ định thủ xem cô có còn nhớ cháu không?

_________________
I stand with Ukraine

Cầu nguyện cho Ukraine
LDN

LDN


Back to top Go down

Thumb up Re: Khu rừng lau - Doãn Quốc Sĩ

Post by LDN Sun Jun 19, 2022 11:10 am

-Sao lại không nhớ!? – bà Nụ cướp lời – cô gì, cô lốc cô lô mà lại không nhớ cháu!

Nghe cô nói "cái thằng bé kia" chẳng khác hồi nào cháu còn nhỏ.

Bà Nụ cười… bà tíu –tít, Kha không kịp xen lời. Cũng may bà Nụ phải ra thăm đồng, Kha hẹn:

-Sẽ có hôm cháu về ở hẳn nhà cô một buổi để cháu nói chuyện lâu!

Rồi đến mấy ông chú, mấy ông anh họ, ông nào cũng để râu dài bằng ông Toán hay gần bằng ông Toán. Kha rẽ và một ngõ xóm thăm bà Quân – em ruột mẹ chàng. Ông Quân chết đã lâu, bà ở vậy nuôi ba con, đứa con trai lớn tên là Ty đã trưởng thành và đã dạm vợ; Thơ, cô gái thứ mới lên mười (năm bố chết cậu còn ẵm ngửa). Vừa bước qua cổng vào tới sân cỏ, mùi rơm ẩm, mùi phân lợn, phân bò quyện lấy Kha như một lời chào đón vô hình. Kha thấy dì cởi trần, váy và yếm màu nước dưa, đang cho lợn ăn, Kha biết là dì vẫn nghèo như xưa.

Thấy Kha vào, bà Quân cười ra nước mắt. Kha chạy ngay đến bên chuồng lợn. Bà Quân vừa lấy dải yếm chấm nước mắt vừa nói hết nỗi-niềm dì mong cháu, em (bà Quân) thương chị (mẹ Kha). Kha cũng không cầm được nước mắt khi nghĩ đến cảnh mẹ góa con côi mà khi mẹ chàng chết cũng không được gặp con.

Chàng mở cặp lấy ra bọc nhật trình:

-Thưa gì cháu mua được mấy thước the La-Cả biếu dì để may áo dài.

-Cháu ơi, cháu còn mua làm gì, cháu mới hồi cư đã phong lưu đâu.Có hết mới về, ai cũng vậy. Về mà dì cháu còn được gặp nhau, còn thấy nhau mạnh cả là mừng rồi.

Không muốn để dì băn-khoăn về chuyện biếu sén này, Kha hỏi sang chuyện khác, Kha hỏi thăm bà ngoại còn sống, Bà Quân nói:

-Bây giờ bà già lắm cháu ạ. Khổ, thế mà cụ vẫn cứ thích nuôi lợn, ai lại tháng chạp năm ngoái, giời rét căm căm mà cụ dậy từ năm giờ sáng ra chợ xin bã rượu và nước chua về nấu cám cho lợn.

Thấy và Quân lại băn-khoăn cúi nhìn bọc nhật trình, Kha vội xin phép dì đi thăm cụ ngoại ngay.

Kha đi sâu vào ngõ xóm, rẽ vào cổng bên phải, chàng gặp ngay ông cậu ngồi trên thềm và bà mợ đứng dưới sân.

Ông cậu vuốt râu – ông cũng mới để râu dài - nói:

-Cậu được tin anh về định ra thăm nhưng ông Hạo cho biết anh sẽ về, bà con đừng ai phải ra thăm cả, thành thử cậu lại thôi. Cậu ít ra Hà-Nội, giá mà đi tìm được chỗ anh ở cũng vất-vả lắm.

Tiếp chuyện cậu mợ được mấy câu, Kha nhìn quanh và hỏi:

-Dạ thưa cậu mợ, bà đâu ạ?

Bà mợ đáp:

-Ấy cụ đang ngắm lợn ở sau vườn. Cụ ngắm con lợn nái của cụ cả ngày. Chả ngày nào cụ không nhắc đến cháu đâu.

Kha ra sau vườn. Bà ngoại chàng quả đã già lắm.

-Mày về đấy ư con – cụ vừa giữ lấy cả hai bàn tay Kha vừa nói – làm sao hôm nay mới về, bà mong mãi.

-Tại cháu chưa có giấy.

Thấy bà ngơ-ngác Kha biết cụ già, tai nặng, chàng ghé thấp xuống nói lớn hơn, ngắt câu thành từng quãng ngắn:

-Cháu chưa có thẻ căn cước! Hôm nay cháu cũng chưa có thẻ căn cước. Nhưng nhớ bà cháu cứ về. Chiều cháu lại ra phố sớm!

Cụ gật gật đầu:

-À …à…

Kha mở cặp lấy ra gói nhật trình khác, vẫn ghé xuống nói lớn:

-Cháu mua biếu bà mấy thước the La-Cả để bà may áo dài, mấy thước vải chúc-bâu đã nhuộm nâu để bà may áo cánh và một chiếc khăn nhiễu.

-Ồ … mua làm gì nhiều thế con, bao nhiêu tiền cả thảy?

-Độ hai trăm rưỡi thôi bà ạ.

Cụ cười:

-Giá mày cứ đưa bà hai trăm rưởi, bà nuôi đôi lợn con, ngoảnh đi ngoảnh lại có nghìn bạc con ạ. Mày về mạnh khỏe thế này bà mừng, cứ như cậu mày thì đến chết cũng không quên được thằng Nam.

Nam là con giai trưởng của ông cậu Kha. Nam chết vì bị máy bay bắn khi cùng gia đình tản cư từ Bắc-Ninh lên Bắc Giang. Ngày nay dưới Nam chỉ còn Bắc là giai, mười ba tuổi và Đông là gái mười một tuổi cùng theo học trường làng.

Kha chào bà, chào cậu mợ, nói là còn về thăm nhà cũ của cha mẹ.

Ra đến đường cái chính, Kha gặp ông tư Hi cũng vào vai chú họ chàng, người làng vẫn hay gọi ông là ông "Tư Cửu Văn", có lẽ vì ông gầy lại lộ hầu, trong người lúc đi, lúc đứng, lúc ngồi đều dài ngoẵng như chữ "cửu văn" trên con bài tổ tôm. Lẽ cố nhiên ông "Tư Cửu Văn" cũng để râu dài. Trong lúc nói chuyện ông luôn luôn cúi sát xuống ta Kha nói thầm, thành thử câu chuyện có vẻ quan trọng tuy sự thực chẳng có gì quan trọng cả. Khi câu chuyện hàn huyên giữa hai chú cháu có bề ngoài quan trọng đó xong, Kha xin phép chú rẽ sang ngõ bên trái. Chàng phải đến thăm một nhà cuối cùng nữa, nhà ông cả Bê, ông bác họ nhưng lại là chỗ thân tình, gần gũi chẳng khác gì bác ruột.

Khi gặp cụ bà thân sinh ra ông cả Bê ở ngay ngõ. Cụ cũng già bằng bà ngoại chàng, nhưng tai thính hơn. Cụ khoe với Kha, cụ có bốn trăm bạc vốn đưa cho ông cả Bê, tháng tháng ông cả Bê cứ giữ bốn trăm để khi cụ "nằm xuống" lấy đó mà mua quan ván, thiếu bao nhiêu thì bù.

Trong khi tiếp chuyện với cụ, ông bà cả Bê, nhận biết là Kha bèn ra tận ngõ đón chàng. Cả hai ông bà cùng mừng lắm.

Kể tất cả những bậc vào hàng chú bác để râu mà Kha gặp từ nãy đến giờ thì bộ râu của ông cả Bê đẹp hơn cả. Râu năm chòm, đúng là râu Quan Công. Nhất là khuôn mạt của ông cả Bê lại vuông chữ điền với nước da rám nắng, khỏe mạnh (ông vẫn có tiếng là người cày khỏe và hay làm nhất làng).

Ba bác cháu vừa nói chuyện vừa hàn huyên được mấy câu thì có tiểng trẻ con khóc trong nhà, ông cả Bê bảo vợ:

-Kìa bà vào bế cháu, nó dậy rồi.

Bà cả Bê bế một thằng nhỏ chừng lên ba ra. Kha hỏi:

-Thưa bác, có phải con anh hai Hứa cháu đấy không ạ?

Bà Cả gật đầu:

-Phải, con thằng Hai đấy. Tên nó là Hiến nhưng phải gọi chệch là Chiến vì bố nó đặt tên thế nào lại trùng phải tên cụ ngoại ông trưởng Thự đằng xóm chợ. Bố mẹ nó vừa ra thăm đồng, chẳng còn bao lâu nữa đã gặt vụ mùa rồi.

Lúc đó Kha mới dám hỏi gượng nhẹ về chuyện Dinh. Dinh là con trưởng ông Cả, trước đây vào biệt động đội bị Tây lê-dương đi tuần bắt được bắn chết rồi quăng xác ở ngay đồng làng.

Ông Cả chợp mắt im lặng. Bà cả thở dài nói:

-Bác cứ nghĩ đến anh cháu lúc nào lại đứt từng khúc ruột.

Một tay và kéo vạt áo lên chấm nước mắt. Kha hỏi:

-Thưa bác thế chị Cả cháu đâu?

Bà Cả nghẹn-ngào:

-Từ ngày anh cháu lâm nạn rồi sau đó mấy tháng bác vợ nợ nó cũng chẳng về. Nó buôn bán ở Hải-Phòng. Hôm nọ giỗ hết anh cháu, nó về từ sớm, đến trưa lại đi ngay.

Ông Cả tiếp:

-Chồng nó chẳng may như vậy, con cái thì không…

-Cả khuôn mặt ông Cả bỗng như chuyển động mạnh, quai hàm bạnh ra, ông khóc nức lên, hai giọt nước mắt lăn vội trên gò mà rồi đọng vướng ở hai bên râu mép, giọng ông như tiếng kêu ở một vật gì nứt rạn:

-Giây rễ không có thì để mặc nó tìm giây rễ khác.

Kha hiểu là ông cả Bê muốn nói: vợ Dinh đã không có con với Dinh thì đành để cho tái giá mà kiếm lấy chút giây rễ về sau.

Tiếng khóc nức và hai giọt nước mắt đó của ông Cả còn ám ảnh Kha cho đến khi chàng theo bước chân bà Cả đưa ta thăm mộ cha mẹ.

(Được ông Cả Bê cho hay ông bà Hạo đều ra đồng làm cỏ từ sớm, chàng không về thẳng nhà vội, mà theo bà Cả Bê ra thăm mộ cha mẹ trước).

Kha đến chỗ góc ruộng khuất gió, đánh diêm châm hương rồi thành kính cắm lên hai nấm mồ xanh của cha mẹ gần sát nhau. Giờ vẫn vẩn mây, gió hiu-hắt … Cả ngày hôm đó như vậy. Kha cúi đầu nhìn là khói hương bốc lên tưởng tượng lại khuôn mặt cha rồi mẹ, chàng tưởng tượng lại ngày mẹ chết cô độc ở quê, cố suy đoán ý tưởng của mẹ lúc lâm chung. Hai giọt nước mắt ứ trên mi, hơi ứ lên cổ và chàng thở dài gượng nhẹ. Trong khi đó tiếng bà Cả khấn xuýt-xoa:

-Thôi thì chú thím sống khôn chết thiêng, chú thím phù hộ cho anh chị làm ăn gặp vận, che-chở cho con cháu khỏi mọi tai ương.

Chia tay cùng bà cả Bê ngoài mộ mẹ, Kha tiến thẳng vè phía lúy tre cuối làng rồi đi vào con đường đất gồ-ghề những về chân trâu, hai bên lề đường là loại cỏ may xác-xơ, vài chú bướm nhỏ xíu cánh tím phớt bay rất lẹ và đổi hướng luôn luôn, như lũ tre nghèo, khỏe mạnh và hồn nhiên miền quê. Thấp thoáng qua lũy tre, nơi là giếng khơi vắng người, nơi là ao bèo với những khoảng đất loang-lỗ ống ánh màu nước thăm –thẳm.

Ngang qua cổng chùa làng chừng năm mười thước tới dương cơ nhà Kha ở bên tay phải chênh-chếch đối diện với dương cơ nhà Vân bên tay trái. Dừng lại, quay nhìn về phía sau, Kha vừa kịp nhận thấy mấy cánh cò trắng bay nghiêng trên nền xanh mênh-mông và như bất động của cánh đồng lúa thấp –thoáng sau lũy tre già. Ông Hạo chưa đi làm đồng về. Qua cổng bước vào sân, mùi cống rãnh nhà hàng xóm bốc lên thoang-thoảng và thân thuộc không hề làm vẩn đục bầu không khí khoáng đạt và trầm lặng của cả vùng xóm này. Có tiếng võng kĩu-kịt từ một căn nhà tranh khuất sau hàng rào dâm bụt cao vồng bên kia vườn. Kha ngập-ngừng tiến thêm mấy bước nữa rồi đứng sững trước bực gạnh lên thềm nhà. Mặc dầu có chú thím trong nom mà cỏ vẫn mọc đây đó quanh thềm, Kha cảm thấy mình cũng yếu đuối như nhánh cỏ.

Cô Hĩm – nhà trong sâu ngõ xóm – vừa bước vào cổng dáng tơi-tả. Giọng cô sang-sảng kiểu cách trong câu chuyện rất đượm vẻ xã giao thăm hỏi "bác giáo", cô xin lỗi là đã không biết "bác giáo" về ngay từ phút đầu.

Kha vẫn giữ khuôn mặt bình tĩnh và giọng nói điềm đạm trả lời cô câu này, bổ khuyết câu khác hoặc thân ái gạt đi khi cô trở lại chuyện quy lỗi về cô vì đã không biết tới đón. Giọng nói của cô không hề làm xao động cái yên tĩnh của xóm quê, trái lại giọng nói sang-sảng đó như biến thành một dòng âm thanh đơn độc để trang trí cho cái yên lặng đơn giản thơ-ngây của cả vùng.

Ông bà Hạo cũng đã hay tin và hớt-hải tự ngoài đồng về, tuy nhiên câu chuyện hàn huyền giữa Kha với chú thím trầm tĩnh hơn nhiều. Cô Hĩm đã nhanh-nhảu vào bếp đặt nồi nước sôi, bắt gà, cắt tiết, làm lông …

Kha hỏi thăm chồng con cô Hĩm thì được cô cho hay anh có chân trong ban chấp-hành liên-đoàn công-chức sở Thủy-Lâm chủ nhật này anh phải ra sở từ sớm để họp, chắc rồi vui anh vui em ở lại luôn đến chiều mới về. Lại thêm một dịp cô Hĩm tỏ lời ân hận vì " nếu biết bác giáo về chơi thì chằng họp dừng hành, nhà em nhất định phải ở nhà chứ!"

Mâm cơm gia đình hôm đó ăn muộn có đúng bốn người: ông bà Hạo, Kha và cô Hĩm. Ăn cơm xong vừa hai giờ chiều. Kha không sang thăm thi vì bà Hạo cho biết Thi đã ra Hà-Nội từ sớm. Đáng tiếc cho cả hai!

Bốn giờ chiều, nắng hanh vàng mùa thu phơi-phới, Kha không ngớt cảm thấy mình ngợp trong hương quê và tình quê như con cá nhỏ sau một thời gian phiêu lưu bỗng tìm thấy đường trở về vịnh sông quen thuộc. Dẫu sao Kha cũng phải ra Hà-Nội sớm, hai xấp bài học trò chưa chấm còn đợi chàng ngoài đó. Tạm biệt chú thím, ra gần tới bến xe điện, Kha còn ngoái lại một lần nữa nhìn cổng làng với cây si, với luỹ tre, với cánh đồng xanh lúa bao quanh và Kha chợt cảm thấy cơ thể tràn ứ nhựa sống, tàm hồn sáng lộng một niềm tin. Chàng kiêu hãnh vô cùng về tình quê đó, chàng thấy mình đúng là một thân cây có rẽ bắt sâu xuống lòng đất mát rợi và phì nhiêu, mặc sức hút mầu lên nuôi thân vững chắc, nuôi lá xanh rờn, nuôi hoa kết trái.

_________________
I stand with Ukraine

Cầu nguyện cho Ukraine
LDN

LDN


Back to top Go down

Thumb up Re: Khu rừng lau - Doãn Quốc Sĩ

Post by Sponsored content



Sponsored content


Back to top Go down

Page 2 of 2 Previous  1, 2

View previous topic View next topic Back to top

- Similar topics

Permissions in this forum:
You cannot reply to topics in this forum