Our forum runs best with JavaScript enabled !

Sách

Page 7 of 7 Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6, 7

View previous topic View next topic Go down

Thumb up Re: Sách

Post by LDN Sun Jun 19, 2022 12:08 pm


M.Duras và "Người tình": Từ huyền thoại đến sự thật

Rfi

Căn nhà của bà Marguerite Duras tại Sa Đéc AFP /C. Boisvieux
Minh Anh
Hè 03 tháng Sáu năm 1929, trên chuyến phà băng qua một nhánh sông Mêkông để đi về Sài Gòn, một nữ sinh trung học người Pháp tình cờ làm quen với một chàng công tử người Việt gốc Hoa, sống tại Sa Đéc. Người sau đó đã trở thành tình nhân của cô.

Mối quan hệ tình cảm này đã ghi lại một dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn thiếu nữ và sau này trở thành nguồn cảm hứng cho ba tác phẩm văn học, làm nên tên tuổi nữ sĩ Pháp Marguerite Duras. Trong đó, tác phẩm “L’amant” (Người tình) đã đoạt giải Goncourt năm 1984, giải thưởng văn học danh giá của Pháp. Tác phẩm được đạo diễn Jean-Jacques Annaud chuyển thể thành phim cùng tên vào năm 1990.

Trong loạt bài mùa hè có tiêu đề « Những nhà văn Viễn Đông » của nhật báo Le Monde số ra trung tuần tháng Tám này, Bruno Philips, tác giả bài viết « ‘Marguerite Duras ở Sa Đéc’ : Những mối quan hệ nguy hiểm » đã có dịp quay lại vùng đất Nam Bộ năm xưa, tìm kiếm những vết tích còn đọng lại như để hiểu rõ thực tại trong toàn bộ không gian hư ảo của Duras. Cái « thực tại » mà Duras suốt cả cuộc đời mình luôn tìm cách chối bỏ. Và cả nghiền ngẫm nữa.

« Tôi phải nói gì với bạn đây, khi ấy tôi mười lăm tuổi rưỡi. Đó là chuyến phà băng qua sông Mêkông », câu mở đầu nổi tiếng của tác phẩm. Chính trên chuyến phà đó, mọi chuyện đã bắt đầu.

Con phà năm xưa giờ không còn nữa. Thấp thoáng xa xa là hình bóng cây cầu hiện đại, được khánh thành vào năm 2000, bắc qua một nhánh sông Mêkông mà người dân bản xứ gọi là « Cửu Long » tức chín con rồng. Dấu ấn còn lại của con phà năm xưa giờ chỉ là chiếc cầu kè bê-tông vẫn còn nằm trơ ra phía sông. Tuy cảnh vật có thay đổi chút với thời gian, nhưng không gian của Duras như vẫn còn đọng lại đó : cũng dòng sông nặng trĩu phù sa, cuồn cuộn chảy xiết, lu mờ dưới làn mưa không ngớt.

Đông Dương: điểm xuất phát cho sự nghiệp của Marguerite Duras

Phông cảnh nền đó đã được Jean-Jacques Anneaud tái hiện một cách trung thành trong bộ phim cùng tên, chuyển thể từ tác phẩm « Người tình » của Marguerite Duras. Người xem tại Việt Nam chắc cũng không khỏi ngỡ ngàng trước ống kính tài tình của đạo diễn, đưa một góc sông nước Hậu Giang hiện đại ngày nay trở lại với không gian Đông Dương những thập niên 20 của thế kỷ trước: một miền đất đậm chất Nam Bộ mộc mạc, giản dị của một thời còn là thuộc địa.

Đây cũng chính là điểm xuất phát cho sự nghiệp văn chương của nữ sĩ Pháp Duras. Vùng đất Nam Bộ đó như là một phần xương thịt trong con người bà. Khi trả lời phỏng vấn nữ phóng viên người Ý, Leopoldina Pallota della Torre, Duras thổ lộ “Đôi khi tôi cũng nghĩ rằng sự nghiệp viết lách của tôi bắt đầu từ đó, giữa những cánh đồng, những khu rừng, và trong sự hiu quạnh. Có một đứa trẻ da trắng, gầy còm và lạc lõng mà người đó chính là tôi, giống người Việt hơn là Pháp, lúc nào cũng chân đất, không biết giờ giấc, không biết cách sống, thích ngắm chiều hoàng hôn trải dài trên sông, với khuôn mặt bị rám nắng”.

Trở lại với chuyến phà nối đôi bờ một nhánh sông Mêkông, nơi diễn ra buổi đầu gặp gỡ của đôi tình nhân. Có thể nói buổi gặp định mệnh đó chính là cột mốc quan trọng cho cả cuộc đời nữ sĩ. Nó ám ảnh, đeo đuổi dai dẳng trong tâm hồn Duras, đến nỗi mà trong vòng bốn thập niên liên tiếp bà có đến những ba phiên bản khác nhau cho cuộc phiêu lưu tình cảm đó: Un barrage contre le Pacifique (tạm dịch là Đập chắn Thái Bình Dương – 1950), L’Amant (Người tình – 1984, giải Goncourt cùng năm), cho đến L’Amant de la Chine du Nord (Người tình Hoa Bắc - 1991).

Nhân vật nam chính trên chuyến phà được bà tái hiện dưới ba nhân dạng khác nhau : Ông « Jo » da trắng trong tác phẩm đầu cho đến « công tử người Hoa », tình nhân không tên trong tác phẩm “Người tình”. Riêng đến tác phẩm thứ ba “Người tình Hoa Bắc”, nhân vật huyền thoại lại được phác họa dưới một góc cạnh rất là điện ảnh. Cũng chính là anh chàng đó, nhưng lại điển trai hơn và cao to hơn so với nhân vật chính trong L’Amant : một kẻ nghiện ngập, nhu nhược và biếng nhác. Và đây cũng chính là con người thật ở ngoài đời.

Theo nhà báo Laure Adler, người viết tiểu sử Marguerite Duras, nhân vật “công tử người Hoa” ngoài đời thật sự ra không mấy điển trai như nhân vật Léo trong tác phẩm thứ ba hay như trên phim. Anh ta thật sự rất giàu và rất lịch lãm, nhưng gương mặt xấu xí, bị hủy hoại vì căn bệnh đậu mùa. Thực tế này quả thật quá khác xa với những gì độc giả tưởng tượng, hay chí ít ra như những gì ta đã xem qua trong phim của Jean Jacques Annaud: một anh chàng cao to, gương mặt điển trai, lịch lãm với những cảnh ái ân nồng cháy, khát vọng nhục dục lồng trong một không gian lãng mạn đầy huyễn hoặc. Đây cũng chính là điểm bất đồng giữa nữ sĩ với đạo diễn. Annaud thì nghĩ đến việc khai thác câu chuyện tình giữa một cô gái Pháp mới lớn đầy khêu gợi với người tình gốc Hoa điển trai, trên một phông nền thuộc địa lãng mạn.

Marguerites Duras : “Người tình”, tiểu thuyết ba xu rẻ tiền !

Nhưng đối với Marguerite Duras, cả « Người tình » lẫn hai tác phẩm còn lại là những quyển tự truyện về chính cuộc đời bà, về tuổi thơ và tuổi trẻ của bà tại cựu thuộc địa Đông Dương, nơi bà được sinh ra và lớn lên, dù rằng cho đến lúc gần cuối đời bà cũng không bao giờ chịu nhìn nhận. Bà nhắc đi nhắc lại là « Người tình » chỉ là một câu chuyện giả tưởng. Cuộc phiêu lưu tình ái đó không bao giờ tồn tại. Sự phủ nhận của nữ sĩ mãnh liệt đến mức bà chối bỏ cả tuyệt tác của mình một năm sau khi xuất bản. Duras nói rằng: “ Người tình, chỉ là một quyển tiểu thuyết ba xu, rẻ tiền. Tôi viết nó trong một lúc say xỉn mà thôi”. Bởi vì Duras nghĩ rằng “chuyện đời bà chẳng có gì đáng để mà kể”.

Chính vì vậy, trong suốt tác phẩm « Người tình », các nhân vật chính là những kẻ vô danh, không tên gọi, được hiện ra dưới những cách gọi « cô gái » và « công tử người Hoa ». Trên chuyến phà ngày ấy, đưa « cô bé » đi về Sài Gòn, còn có « anh chàng người Hoa ». « Cô bé » đó không ai khác chính là nữ sĩ, khi ấy cũng vừa được 15 tuổi. Còn « chàng công tử người Hoa », ngoài đời tên thật là Huỳnh Thủy Lê, lúc ấy được 27 tuổi, là con trai của một điền chủ gốc Hoa sống tại Sa Đéc. Vào thời điểm đó, Marguerite Duras vừa đi thăm mẹ ở Sa Đéc về.

Ta không khỏi tự hỏi vì sao Marguerite Duras lại có những thái độ tiêu cực đối với đứa con đẻ tinh thần của mình đến như vậy. Bà đã mất tổng cộng bốn thập niên để mà thêu dệt nên ba tuyệt tác, trong đó tác phẩm « Người tình » đã đoạt giải Goncourt năm 1984, một giải thưởng văn học cao quý của Pháp, đưa tên tuổi của bà ra toàn thế giới. Tác phẩm « Người tình » đã được dịch ra 35 thứ tiếng và hơn 2,5 triệu bản đã được bán chạy.

Marguerite Duras: hiện thân của sự nổi loạn

Theo Bruno Philips, có lẽ chính vì tuổi thơ buồn tủi, đầy khó khăn, cô độc và thiếu vắng tình thương của gia đình đã dẫn nữ sĩ có những hành động « chối bỏ » kỳ quặc như thế. Sinh ngày 04/04/1914, tại Gia Định (tên cũ của Sài Gòn), Marguerite Donnadieu, tên thật của nữ sĩ, là đứa con gái duy nhất trong một gia đình có ba anh em. Thế nhưng, nữ sĩ lại sớm chịu cảnh mồ côi cha khi vừa được bốn tuổi. Mẹ bà một giáo viên tiểu học, trải qua nhiều nhiệm sở Hà Nội, Phnom Penh, Vĩnh Long rồi sau này là hiệu trưởng một trường nữ sinh tại Sa Đéc (giờ là trường Trưng Vương). Tuổi thơ của nữ sĩ hầu như trải qua tại Đông Dương, nhưng giữa sự hung bạo của người anh cả, sự lạnh lùng và những cơn điên loạn của bà mẹ bởi nỗi ám ảnh thiếu thốn tiền nong.

Chính vì vậy, Duras cũng có lần nhìn nhận rằng lúc ban đầu khi bà đến với “chàng công tử” triệu phú người Hoa đó cũng chỉ vì tiền. Trong tác phẩm “Người tình”, Duras có nói rằng bà không bao giờ kể cho mẹ bà biết mối quan hệ vụng trộm này. Nữ sĩ nhận thức được rằng, đấy sẽ là một điều sỉ nhục cho gia đình, cho mẹ bà. Nhưng với bản năng của người mẹ, nên có lẽ mẫu thân nữ sĩ cũng có những nghi ngờ.

Đôi lúc bà vừa đánh đập cô con gái vừa gào thét « con gái bà là một con điếm, bà sẽ vứt cô ra ngoài, bà ước gì thấy cô chết bờ chết bụi và không ai muốn thấy cô nữa, cô ấy đã bị ô uế thanh danh, thà làm con chó còn hơn ». Trên thực tế, chưa bao giờ Duras được hưởng chút tình thương yêu của mẹ. Mọi tình thương và kỳ vọng mẹ bà đều dành trọn cho người anh cả, một kẻ hư hỏng, thô bạo, bê tha cờ bạc rượu chè, nghiện ngập, suốt ngày chỉ biết hành hung hai đứa em của mình.

Marguerite Duras : viết sách là để giải bày những điều thầm kín

Cuộc đời của Marguerite hầu như tan vỡ, sống không chủ đích. Cuộc phiêu lưu tình ái đó cũng phản ảnh phần nào tâm trạng nổi loạn của bà như để bù đắp lại khoảng trống tình thương trong tâm hồn. Tuy nhiên, cho dù cuộc tình đó nó có thật hay không, điều đó đối với nữ sĩ cũng không có chút tầm quan trọng nào. Nó chỉ là một công cụ để Duras có dịp khuất lấp sự thiếu thốn về tinh thần và vật chất.

Ngay từ đầu tiểu thuyết « Người tình », Duras đã viết rằng : « Sử dụng chuyện viết lách không chỉ nhằm tái hiện sự việc dưới dạng huyền thoại mà còn là cách để tiếp cận với nhiều điều khác nữa, vẫn còn ẩn náu trong sâu thẳm tâm hồn mù quáng […] ». Đúng như là lời giải thích của nhà văn Laure Adler, người viết tiểu sử về Marguerite Duras, tham vọng của tác phẩm thể hiện « ao ước được giải bày hơn là để mà tự kể về mình ».

Về phần nhân vật « người tình », các nhân chứng hiếm hoi mà Bruno Philips, phóng viên báo Le Monde may mắn gặp được tại Sa Đéc cho biết sau khi chia tay với người bạn tình Pháp, Huỳnh Thủy Lê phải nghe lời cha lấy một cô gái rất xinh đẹp, con của một điền chủ giàu có khác tại Tiền Giang, nhằm cứu rỗi kinh tế gia đình do làm ăn thất bại. “Người tình gốc Hoa” của bà sau khi đám cưới còn sống chung lén lút với người em vợ.

Sau thống nhất, Huỳnh Thủy Lê đã cùng gia đình di tản sang Mỹ. Vốn là người rất trọng truyền thống, trước khi mất ông có tâm nguyện muốn được chôn cất tại quê nhà Sa Đéc. Một người cháu của Huỳnh Thủy Lê buồn tủi cho tác giả Bruno Philips biết, các hậu thế trực tiếp của Huỳnh Thủy Lê hiện đều có cuộc sống giàu sang đây đó tại Mỹ hay Pháp, nhưng để ông mồ côi mả quạnh tại Sa Đéc, do vài đứa cháu nghèo khổ còn sót lại trông coi.

_________________
I stand with Ukraine

Cầu nguyện cho Ukraine
LDN

LDN


Back to top Go down

Thumb up Re: Sách

Post by LDN Thu Jun 23, 2022 2:12 pm

BÔNG TRÀM

Đọc “Đoạn tuyệt” của Nhất Linh và đôi điều suy nghĩ -

Thành Nam

Hẵn trong chúng ta, những người học hết bậc trung học, ai cũng có đọc qua tác phẩm “Đoạn Tuyệt” của Nhất Linh. Đại khái nội dung truyện:
Loan, con của ông bà Hai ở phố Mới và Thân con ông bà phán Lợi ở ấp Thái Hà (Hà Nội). Gia đình nghèo nhưng ông bà Hai cố gắng nuôi Loan ăn học đến hết bậc cao đẳng, còn Thân tuy con nhà giàu có quyền thế nhưng học vấn kém. Hai bên đã giao ước cho đôi trai gái lớn lên kết duyên chồng vợ. Ông bà Hai có mượn tiền gia đình ông bà phán Lợi nên quyết tâm gả Loan cho Thân để một phần giảm căng thẳng về mặt nợ nần. Loan không thuận lấy Thân trái lại âm thầm thương Dũng một bạn trai học thức, nghèo, dường như có đầu óc hướng theo đường lối cách mạng(?). “Áo mặc sao qua khỏi đầu?”, dù cự tuyệt, sau rồi Loan cam chịu về làm vợ Thân. Va chạm giữa hai luồng tư tưởng cũ/ mới: bên nhà Thân thì bảo thủ phong kiến; cá nhân Loan theo trường phái tân học tiến bộ nên không khí gia đình luôn bất hòa rạn nứt, mâu thuẫn xảy ra thường xuyên… Gay gắt nhất kể từ khi đứa con trai của Loan sinh ra không lâu bị bệnh chết do gia đình chồng không cho mang thằng bé vào bệnh viện chữa trị mà dùng bùa chú của các thầy lang. Lúc sinh con do cơ thể không còn cho phép Loan bị “triệt sản”, để có cháu nối tông môn, gia đình chồng bắt Loan đứng ra cưới Tuất một cô gái trẻ gần nhà làm vợ lẽ cho Thân. Tuất sinh được đứa con trai, lại tỏ ra “kẻ trên”, gia đình chồng ngày càng khinh miệt Loan xem nàng như một loại nô dịch không công, một “chiếc máy đẻ” vô cảm “trục trặc” không còn tác dụng... Quá ư cay nghiệt, mang trong lòng nỗi ức ách, Loan không thiết chiều lụy cái đại gia đình chồng hà khắc bất công, nhiều phen nàng muốn bức phá bỏ nhà chồng ra đi. Nhưng phận “chim lồng cá chậu” không dễ, dùng dằng mãi... Rồi một đêm, ngẫu nhiên định mệnh đến với nàng, kết thúc cuộc tình éo le đeo mang không duyên nợ bằng một vụ án mạng để Loan có cơ hội đoạn tuyệt với gia đình chồng…
* * *
Đọan Tuyệt là cuốn tiểu thuyết luận đề chủ đích chính của tác giả là muốn nêu lên tư tưởng giải phóng phụ nữ, xóa bỏ tư tưởng bất công về về giới tính đã ăn sâu gốc rễ trong xa hội ta hằng nghìn năm ảnh hưởng bởi triết lý Khổng Mạnh. (Có thể ảnh hưởng từ ngàn năm giai đoạn “phụ hệ” trong gia đình nhất thiết phải cói con trai làm trụ cột khác với thời kỳ “mẫu hệ”?).  
Đứng về khía cạnh đạo đức, luật pháp… nhiều vấn đề đặt ra từ khi cuốn sách xuất bản đến nay hơn 70 năm, nhiều bình luận khen chê phê phán. Ý nghĩa quan trọng mà ta thấy cần ghi nhận là tác giả nêu bậc được hiện tượng xấu cần phải “tiểu trừ” như một loại giặc là quan niệm “trọng nam khinh nữ”.  Tư tưởng ấy đã trở thành loại phong kiến rắc rối đã hằng nghìn năm và hiện nay còn vương vấn như một linh hồn chưa tan biến hẵn vào mây khói thiên thu…
Loan đơn thân độc mã đấu tranh xóa bỏ quan điểm xem con trai là trọng con gái như không.
Những đoạn văn tác giả nêu lên bản chất thời phong kiến xem thường nữ quyền cần đấu tranh phá bỏ trong Đoạn Tuyệt của Nhất Linh:
Loan nói:
- Nếu đứa con em đẻ ra là con gái thì em cũng sẽ cho nó đi học, nhưng em sẽ hết sức làm thế nào cho nó khỏi gặp cảnh ngộ như em. - (chương 10)

Thân bước vào buồng nhìn quanh quẩn rồi hỏi Loan:
- Con trai hay con gái thế mợ?
Loan quay lại chồng đứng lặng ở đầu giường ngong ngóng đợi câu trả lời. Nàng nhếch miệng mỉm cười đáp:
- Con gái.
Thân vẻ mặt lạnh lùng ngồi xuống ghế…(Chương 12)

Thấy hai thiếu nữ suýt bị xe cán phải, quay lại nhìn, rồi vô cớ cất tiếng cười khúc khích với nhau…(Chương 18)
Từ ngày cuốn tiểu thuyết Đoạn Tuyệt của Nhất Linh ra đời đến nay biết bao nhiêu sự đổi thay về mặt tư tưởng trong quan điểm “trọng nam khinh nữ”. Tâm huyết của của Nhất Linh là phải thay đổi quan điểm xem nhẹ nữ quyền. Và quan điểm ấy đã nở rộ trong xã hội, len lỏi tận vào các sân khấu kịch nghệ, cải lương… vạch trần số phận hẩm hiu, thực trạng đau buồn của phụ nữ bị xã hội bạc đãi, họ sinh ra đời là một sự không may mắn, “đầu thai” lên để mục đích làm nô lệ kể cả “nô lệ tình dục”. Xã hội có thay đổi lớn về nhân sinh quan khi nhìn về thân phận phụ nữ, nghĩa là mơ ước của nhiều người nói chung và tác giả nói riêng có hiệu quả. Thực tế cho đến nay tư tưởng phong kiến ấy chưa thể phôi pha hoàn toàn mặc dù xã hội ta đã thay đổi nhiều về quan điểm xem thường phụ nữ. Tư tưởng “phân biệt đối xử” xưa vẫn để lại hậu quả cho đến nay khiến cán cân phái tính lệch xệ về một phía để các nhà quản lý dân số hiện tại cũng phải “la làng” báo động.
* * *
Tôi không rành lắm câu nói của ai, thời nào: “Nhất nam viết hữu, thập nữ  viết vô” (sanh một người con trai kể như có, sanh mười đứa con gái kể như không).
Ai cũng hiểu từ ngày khai sinh lập địa, lúc trái đất có loài người, thiếu phụ nữ là thiếu đi một nửa. Những người đàn ông cô độc rất khó khăn khi phải tự sống, tự an ủi, tự đè nén cảm xúc lòng mình. Có khi nhờ phụ nữ mà “bầy người nguyên thủy” đàn ông được cảm hóa, biết suy tư để dừng lại những cuộc chém giết tương tàn, bớt đập đầu nhau bằng những cành cây hay rìu đá.
Phụ nữ có thể tạo ra chiến tranh, phụ nữ có thể lập lại hòa bình, họ toát lên vẻ đẹp thánh thiện cho trái đất thêm muôn màu sặc sỡ và nhiều hương vị… Nữ anh hùng thời nào ở đâu cũng có, họ biết điều binh khiển tướng tạo nên những chiến công lừng lẫy làm điếm nhục đối phương là phái mạnh.
Việt Nam trải qua bao thời kỳ chống kẻ thù xâm lược, giải phóng dân tộc đã xuất hiện nhiều nữ anh hùng tên tuổi lẫn vô danh. Trong phát triển và xây dựng đất nước, ta lại có nhiều gương phụ nữ tốt nổi cộm.
Nhìn ra thế giới bao la ta biết có những nữ hoàng, nữ thủ tướng, nữ tổng thống, nữ cố vấn tham mưu cho các nam nguyên thủ quyết định nhiều chính sách lớn cho đất nước họ.
Một thực tế không kém phũ phàng đã xuất hiện nhiều nơi trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại qua nhiều quốc gia, là ý thức hệ xem nhẹ nữ quyền.
Chúng ta đã từng nghe bà cố, bà nội, bà ngoại, má… mình kể về “thân phận làm dâu” thời phong kiến xa xưa. Và vài chục năm trước đây thôi nhiều sản phụ trong vùng rất sợ sanh bé gái. Có người “giết con trong trứng” khi phát hiện đó là thai nữ, có người quăng hài nhi nữ vào sọt rác lúc vừa sanh! Nhiều đàn ông xem phụ nữ như “chiếc máy đẻ” vô hồn, là công cụ phục vụ nhu cầu tình dục.
Đến cả bây giờ, một số nước còn bắt phụ nữ khi ra đường không được nhìn đàn ông, không được cho đàn ông nhìn mình, người ta cắt đứt nguồn gợi cảm vô biên mà tạo hóa ban cho phụ nữ, bắt phụ nữ làm vợ lẻ đời thứ mấy, ngăn cấm mọi khả năng vươn tới con người hoàn thiện, khâm liệm cả tuổi thanh xuân đầy mộng mơ ở phụ nữ! Có nơi bắt phụ nữ “cưới chồng” và giao nộp “của hồi môn” nếu không, khi về làm vợ sẽ bị trừng phạt!...
Biết bao thứ mà người ta đã đối xử không đẹp, tàn nhẫn, thiếu công bằng với phụ nữ từ quan điểm “trọng nam”.
Trong các nhà hàng ở Việt Nam chương trình văn nghệ giúp vui ở các lễ gả, cưới có ta thường nghe ca sĩ hát câu “sanh con đầu lòng một bé trai thật là ngoan…”, ta vỗ tay tán thưởng một cách vô tâm, thiếu ý thức! (Tại sao phải là bé trai mà không phải bé gái hay trai, gái gì cũng được?).
Bây giờ phải thẳng thắn nhìn nhận một thực tế: Phụ nữ đang khan hiếm dần và từ từ sẽ có giá trị hơn mọi loại vàng trên mặt đất!
Những nơi trước đây xem thường phụ nữ, từng hủy diệt những sinh linh nữ, quăng liệng các hài nhi nữ… giờ hơi rối khi điểm lại thấy thưa thớt phụ nữ đến lạnh lùng cả gối chăn, cán cân phái tính lệch tuột do nam thừa, nữ thiếu. Xứ sở thiếu quá nhiều cô dâu, những nhan sắc làm lộng lẫy thêm cho bầu trời cao sang của họ. Họ chạy đi tìm phụ nữ khắp chân trời, góc biển… không còn chê khen màu da chủng tộc! Và phụ nữ một số nước đang phát triển, một số nước nghèo phải chịu ảnh hưởng vòng xoáy ấy. Dù rất yêu quê cha đất mẹ… cũng vỗ cánh bay đi, có khi không vì tình yêu mà cần những người đàn ông nhiều tiền khát phụ nữ!
Chúng ta đã đau lòng khi biết được ngay chính quê hương mình ngày càng vắng đi những người đẹp. “Làng phụ nữ”, “đảo phụ nữ” do hậu quả từ chiến tranh, từ những trận cuồng phong nhận chìm hết đàn ông xuống đáy biển… hằn sâu nơi ký ức mình những phiên khúc buồn. Chúng ta cũng sẽ rùng mình không khi nghĩ đến rồi một ngày kia có nhiều “làng đàn ông”, nhiều “đảo đàn ông” như sỏi đá mọc ra để trả giá cho triết lý xem nhẹ nữ quyền?
Ở thành phố Hồ Chí Minh có một bà mẹ vì tha thiết có một cô “công chúa” thách thức cả mạng sống của mình: hai lần sanh trước mổ bắt hai đứa con trai, bác sĩ khuyên không nên sanh nữa nhưng vì muốn được một con gái nên bà chấp nhận mổ sanh lần thứ ba mất sáu lít máu! (Báo Tuổi Trẻ 26-06-2008). Đọc bài báo ta thấy xúc động đến nghẹn ngào, ước mơ có con gái trở thành khốc liệt với bà ấy và biết đâu cũng còn với rất nhiều người trong xã hội?
Ở Ấn Độ có bang nọ ứng cử viên tranh cử vào các chức vụ bang gặp nhiều cử tri nam giơ cao biểu ngữ: “Hãy kiếm vợ cho tôi để lấy phiếu”! (Báo Tuổi Trẻ 25-09-2009).
Nếu khoa học không dự phần vào việc quyết định phái tính thì chuyện sinh trai hay gái là một xác suất ngẫu nhiên, công bằng không chọn lựa ở tạo hóa. Có thể cũng vì câu “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” mà giờ đây con trai, đàn ông từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore… phải vất vả đi tìm  một nửa cho mình ở các nước khác?
Nhiều tác giả có uy tín cho rằng nếu chúng ta không sớm thức tỉnh thì cán cân phái tính sẽ càng lệch thêm. Tới lúc nào đó con trai xứ ta cũng chạy đi tìm vợ nhưng không còn chỗ nào thừa phụ nữ nữa! Trên mạng Yahoo gần đây cũng báo động đến năm 2020 sẽ có hàng triệu nam giới VN có thể không lấy được vợ!
Tổng cục Dân số và Kế Hoạch hóa gia đình VN năm 2011 đã báo tỷ số từ 111 (cá biệt có nơi 130) nam/ 100 nữ lứa tuổi từ 0 đến 4 ở xứ ta và tỷ lệ đang trên đà tăng!
Trong gia đình, ngoài xã hội nếu ta không can đảm thừa nhận phụ nữ đang có giá hơn thì ít ra cũng nên xem họ bình đẳng. Việc bạo hành, chà đạp nữ quyền là đi ngược đạo lý làm người.
Vùng tôi ở, câu “sanh một người con trai xem như có, mười đứa con gái kể như không” trong thực tế không tồn tại. Mà ngược lại người ta hay khôi hài bằng một câu mang tính văn học dân gian khác: “Sanh con gái vàng đeo tới háng/ Sanh con trai mang bằng khoán đi cầm”! Giống như câu khẩu hiệu của Hàn Quốc: “Một người con gái tốt bằng mười người con trai”.
Nói như thế ta cũng không nên cực đoan quay lại chà đạp “nam quyền” phát sinh quan điểm mới mang tính trả thù, để vài chục, một trăm năm sau chịu một hậu quả đau thương đảo ngược không kém phần gay gắt khốc liệt hơn nữa!
Ở Cần Thơ năm kia có một bé trai mới sanh còn mang dây rốn bị bỏ trong thùng mốp thả trôi trên sông Cái Răng, may mắn được một người gặp cứu sống tới nay và một bé trai khác tương tự ở Hậu Giang bị bỏ trong thùng rác cũng có người phát hiện cứu nhưng sau đó có lẽ bị nhiễm trùng chết. Quá thương tâm!
Khi ta sinh ra một con người thì dù là trai hay gái đều thiêng liêng cao quí, đều may mắn như nhau cả. Ta phải trân trọng, cưu mang, ôm ấp chúng vào lòng bằng một thái độ thương yêu bình đẳng. Phân biệt giới tính chỉ tồn tại nơi những con người và xã hội thiếu văn minh, không nhân bản…
* * *
Đã 77 năm từ lúc đứa con tinh thần đặt tên “Đoạn Tuyệt” được Nhất Linh “khai hoa nở nhụy” và 50 năm kể từ ngày ông mất đi giá trị cuốn sách vẫn còn. Đoạn Tuyệt vẫn còn như một tuyên ngôn và Loan đại diện cho trường phái tiến bộ đấu tranh kêu gọi bình đẳng giới, kêu gọi mọi người tẩy chay tư tưởng phong kiến sai lầm. “Nhất nam viết hữu…”  mang tính ích kỷ cá nhân vặt vãnh của giai cấp đàn ông thời xa xưa xem nhẹ nữ quyền, họ  đặt ra triết lý ấy để làm lợi cho phái mạnh của mình!

_________________
I stand with Ukraine

Cầu nguyện cho Ukraine
LDN

LDN


Back to top Go down

Thumb up Re: Sách

Post by LDN Thu Jun 23, 2022 2:18 pm

THAM LUẬN: VÀI SUY NGHĨ VỀ NHỮNG NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM ĐOẠN TUYỆT CỦA NHẤT LINH

Huythanhts

VÀI SUY NGHĨ VỀ NHỮNG NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM "ĐOẠN TUYỆT " CỦA NHẤT LINH

HUY THANH


1-VÀI NÉT VẾ TÁC GIẢ:

NHẤT LINH ( 1905-1963 ) tên thật là Nguyễn Tường Tam,nguyên gốc người Hội An tỉnh Quảng Nam Ông sinh ngày 25/07/1906 tại huyện Cẩm Giang, tỉnh Hải Dương. Ông đậu bằng Thành Chung sau đó làm việc tại Sở Tài Chánh Hà Nội. Năm 1925 ông theo học Cao Đẳng Mỹ Thuật rồi chuyẻn sang học ngành Y Khoa. Năm 1927 ông sang Pháp du học, Năm 1930 đậu bằng Cử Nhân Khoa Học sau đó về nước. Năm 1032 lập tờ báo PHONG HÓA. Năm 1933 thành lập nhóm " Tự Lực Văn Đoàn " gồm nhửng cây bút nồng cốt như Khái Hưng, Hoàng Đạo, Tú Mỡ, Thế Lữ v..v..Năm1935 chủ trương tờ báo NGÀY NAY. Tứ năm 1938 đến năm 1963 song song với hoạt động văn học nghệ thuật như viết tiểu thuyết, vẽ tranh, ông còn tham gia hoạt động Chính Trị, Năm 1953 ông vào Nam cư ngụ tại Đà Lat Năm 1958 ông chủ trương báo Văn Hoá Ngày Nay tại miền Nam.
Một số tác phẩm nổi tiếng của ông là: Nho Phon, Người quay Tơ ( 1926 ), Anh phải sống ( viết với Khái Hưng 1933 ), Gánh hàng Hoa ( viết với Khái Hưng 1934 ), Đời mưa gíó ( Viết với Khái Hưng 1934 ), Nắng Thu ( 1934 ) Đoạn Tuyệt (1935 ) Lạnh Lùng (1935 ) Hai buổi chiều vàng ( 1937 ), Thế rồi một buổi chiều ( 1937 ) Đôi bạn ( 1937 ), Bướm trắng ( 1939 )

Năm 1963, Ông tham gia lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm tại miến Nam nhưng bất thành. Ông bị bắt, trước ngày bị đưa ra Toà xử vào ngày 7/7/1963 ông uống thuốc độc quyên sinh.



2-NÔI DUNG TÓM TẮT TÁC PHẨM ĐOẠN TUYỆT:

Nhân vật chính trong tác phẩm Đọan Tuyệt là Loan, một cô gái theo Tây học Loan học đến năm thứ tư Ban Cao Đẳng  Tiểu  Học tiếp thu được tư tưởng mới, không phục tùng những hủ tục ràng buộc người con gái trong "tam tòng tứ đức" của Khổng Tử . Loan và Dũng yêu nhau vì ý hợp tâm đầu .Dũng yêu Loan, nhưng vì hoàn cảnh nên chưa lấy Loan làm vợ được. Loan bị cha mẹ ép gả cho Thân,là một thanh niên con nhà giầu, thất học, hủ hoá, tầm thường Mẹ Thân là bà Phán Lợi, một người giầu có nhưng rất quan niệm cổ hủ kiểu gia trưởng, bà quan niệm gia đình là "Chồng Chúa vợ Tôi ".
Khi về nhà chồng ,Loan cố gắng nhịn nhục, thích nghi với cuộc sống, quan điểm cổ hủ của bên nhà chồng. Sau khi đúa con đầu lòng bị bệnh chết. Loan không còn khả năng sinh sản nữa. Bà Phán Lợi với mê tín dị đoan cho là Loan làm xui xẻo giòng họ bà. Với quan niệm cổ hủ cần con nối dõi tông đường nên bà ép buộc Loan phải chấp nhận cho chồng lấy vợ lẽ. Loan phải ép lòng để cho Thân lấy vợ bé là Tuất, một cô gái nhà quê thất học. Loan cam tâm sống tủi nhục trong sự khinh rẻ của mẹ chồng và cả của người vợ lẽ của chồng cô.
Một hôm, trong cuộc cãi vã vì bị chồng đối xử tê bạc bởi chuyện không ra gì, Thân với quan niệm " chồng Chúa vợ Tôi " hùng hổ đánh Loan. Thân hung  hăng chụp cái lọ đồng tiến lại định đập trên đầu Loan. Ý thức tự vệ đã khiến Loan vớ lấy con dao rọc sách chống đỡ.  Sức yếu, Loan té ngã xuống giường, Thân lỡ trớn ngã theo bị con dao đâm trúng ngực, sau đó chết Loan bị bắt giam vì tội " giết chồng ". Loan bị bắt giam sau đó bị đưa ra Toà , bà Phán Lợi mong Loan bị xử nặng tội để trả thù cho cái chết của con.
Trước Toà Án, vị luật sư bào chửa cho Loan với quan niệm của một người Tây học đã hết lòng bào chửa cho cô bằng những lý luận sắc bén, thuyết phục .Sau cùng Tòa án phải tha bổng Loan vì không " cố ý " giết chồng, mà ngộ sát vì lý do " tự vệ ".
Sau đó , Loan trở lại nhà cha mẹ ruột thì mẹ Loan chết, Loan phải bán ngôi nhà cha mẹ để lại để trả nợ cho bà Phán Lợi, chính vì món nợ nầy mà trước đây ba mẹ Loan mới ép cô lấy Thân để trừ nợ Từ đó, Loan sống trong cô độc nghĩ rằng Dũng đã quên mình. Phần Dũng trên bước đường bôn ba, anh không thể nào quên được Loan, được tin thảm cảnh xãy ra cho Loan, Dũng vô cùng hối hận vì nghĩ rằng cuộc đời Loan đau khổ la do mình gây ra nên anh viết một bức thư nhờ bà giáo Thảo mang đến cho Loan đề nghị nối lại duyên tình.

3- NHẬN ĐỊNH CHỦ ĐỀ CỦA TÁC PHẨM:.

Cuốn tiểu thuyết Đọan Tuyệt của Nhát Linh ra đời vào năm 1935 , thời điểm mà nền văn học Việt Nam đang chuyển mình sang một hướng mới theo quan điểm dân chủ tự do của Tây Phương .Cùng với sự tiến bộ của những tiện nghi cuộc sống trong xã hội , nền in ấn tiến bộ của phương Tây là những nhịp cầu nối tư tưởng tiến bộ ấy đến với quần chúng nhân dân. Trước hết bằng chuyển hướng tư tưởng qua tác phẩm văn học, rồi sau đó tư tưỡng biến thành hành động hiện thực cải tạo xã hội .

Đoạn Tuyệt là một cuốn tiểu thuyết Luận Đề Xã Hội, thời điểm xãy ra cốt truyện là bước vào đầu thế kỷ XX,  khi mà cuộc đấu tranh tư tưỡng mới và tư tưởng cũ trong xã hội Việt Nam đã đến hồi quyết liệt một mất một còn. Nhất Linh cùng với nhóm Tự Lực Văn Đoàn gồm những nguời viết trẻ có tâm huyết muốn cải cách xã hội như Thạch Lam, Hoàng Đạo,, Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ, Khái Hưng đã khẳng định lập truờng là đứng vào Nhóm tư tưởng mới để chống đối, đả phá Nhóm tư tưởng cũ, vốn đã làm cho văn học Việt Nam bị đắm chìm trong vòng lẩn quẩn không lối thoát của tư tưỡng Khổng Mạnh.

Theo quan điểm tác giả thì: “ Viết luận đề tiểu thuyết, nghĩa là viết tiểu thuyết để nêu một lý thuyết, để tán dương tuyên truyền một cái gì tác giả cho là tốt đẹp, để đả đảo một cái gì tác giả cho là xấu xa.."  Những nhà phê bình văn học xưa nay vẫn coi cuốn tiểu thuyết "Đoạn tuyệt "của Nhất Linh là một cuốn tiểu thuyết luận đề về sự xung đột giữa cái mới và cái cũ. Nhân vật Loan tượng trưng cho phái mới, đã chống đối kịch liệt với Thân cùng bà Phán Lợi, mẹ chồng là người đại diện phái cũ .

Ta hãy phân tích từng vai trò, đặc điểm tâm lý, cách ứng xử, đối đáp của một số nhân vật chính trong quyển tiểu thuyết nầy:

4- NHÂN VẬT CHÍNH VÀ VAI TRÒ  CỦA HỌ TRONG TÁC PHẨM  " ĐOẠN TUYỆT ":

   4.1- NHÂN VẬT LOAN:

Đây là nhân vật chính diện trong quyển tiểu thuyết, cô là người con gái có học thức, có ý chí mạnh mẽ, là người chiến sĩ đấu tranh kiên cường cho cái mới vừa nẩy mầm trước cái cũ vừa tàn lụi .Tuy nhiên trước nghịch cảnh gia đìn , cô phải chấp nhận lấy chồng, một người chồng cô không yêu, không hợp. không cùng trình độ học thức. Nhưng vì chữ hiếu cô đã ép mình bỏ đi cái " tôi " của mình để nén lòng, nhịn nhục, để sống yên thân, yên phận vói nhiệm vụ làm vợ, làm mẹ. Có thể nói nhịp cầu duy nhất để Loan chịu lép vế an phận trong gia đình bên chồng là đứa con của cô, tuy nó mong manh nhưng tràn đầy sức mạnh, đó là tình mẫu tử, là sợi dây thiệng liệng mà người mẹ nào cũng không thể bức được nó. Trong Loan, lúc nào cũng có sự phản kháng ngấm ngầm trong giòng máu Tây Học của cô với những sự đối kháng quyết liệt quan điểm cổ hủ, lỗi thời cũ, Chính nó đã đưa người phụ nữ trở thành ngu dốt trong xã hội, chấp nhận số phận người khác đặt để dù là đặt để trong đớn đau tuyệt vọng. Cái vòng kim cô đó luôn luôn được bao bọc bởi những mỹ từ đạo đức, chính nó đả đẩy đưa số phận người phụ nữ như một trò chơi bi thảm của cái gọi là số mệnh, đã làm chết oan những cuộc đời khao khát sống, và sống thực cho mình.

Ta hãy đọc đoạn Loan đối đáp với mẹ mình là Bà Hai khi bà ép Loan lấy Thân để trừ món nợ:

" Loan :ngững đầu lên nhìn thẳng rồi thong thả đáp:
- Vâng thì xin mẹ để tùy con, và nhân thể mẹ để tuỳ con định có nên lấy chồng hay không lấy chồng. Con đã nhiều lần thưa với mẹ rằng con không thể...
Bà Hai giận dữ:
-À, cô không thể...cô phải biết cô lớn rồi, cô phải biết nghĩ chớ
Loan vẫn ung dung
-Thưa mẹ, chính vậy, chính vì con khôn lớn con biết nghĩ nên mới thưa cùng mẹ rằng con không thể về lam dâu nhà ấy
Bà Hai nói:
- Dễ thường cô nghĩ chuyện chơi sao?
Loan đáp:
-Không, con không cho là chuyện chơi. Con cho là một chuyện rất quan hệ trong đời con, mà chỉ quan hệ đến đời con mà thôi " Loan nhấn mạnh: '" chỉ quan hệ đến đời con mà thôi " là một câu trả lời đanh thép, một lời đòi hỏi tự do cho số phận của mình trong thời đại mới mà cha mẹ cũng không có quyền " đặt đâu con ngồi đấy: " Ta hãy xem Loan đã trình bày ý kiến với cha về cuộc hôn nhân của mình:

-Thưa thầy con không hỗn. Không bao giờ con dám vô lễ với mẹ con. Nhưng ít ra mẹ con phải đề con nói chuyện phân bày phải trái về một việc quan hệ đến đời con
. Ta hãy xem những lời đối đáp của Loan với bà Phán Lợi khi thảm cảnh gia đình đã đến hồi cao trào:

- Không ai có quyền chửi tôi, không ai có quyền đánh tôi
Hay:
-Bà cũng la người, tôi cũng là ngưới, không ai hơn kém ai .Bà đánh tôi, tôi không .." Khi con thú đã bị rượt đuổi đến đường cùng không lối thoát thì mặc dù biết mình yếu sức nó cũng quay lại cắn kẻ thù trước cái chết sắp đến. Ở đây, những lời phản kháng của Loan nói với bà Phán Lợi khi bà nghĩ mình là mẹ chồng có quyền đánh đập con dâu chính là hành động của con thú bị đẩy vào đường cùng. Đó là lời cảnh báo cái củ đã không còn nữa và cái mới phải được vươn lên .Một thứ bom tấn đánh vào thành trì cổ hủ, rêu phong, mục nát của tư tưỡng phong kiến cũ đã chà đạp lên danh dự người phụ nữ, đã ném người phụ nữ xuống vực thẳm, trói họ bằng thứ xiềng xích vô luân được khoác dưới lớp áo luân lý, mị dân .

Tuy phản kháng những cái cũ hủ lậu, lổi thời một cách quyết liệt nhưng Loan cũng không hẳn quá khích bài xích tuyệt đối những cái củ không hủ lậu mà cô cũng có nhửng nhân nhượng, Biểu hiện là khi mới lấy Thân , cô đã có đề nghị cùng chồng ra Hà Nội ở riêng, buôn bán , để tránh sự xung khắc với bà Phán Lợi nhưng không được.Sau đó khi vế nhà chồng, cô đã hết lòng nhẩn nhục để yên phận làm mẹ, làm dâu bất đắc dỉ ,Ta hãy đọc một đoạn văn viết về tâm tư của Loan trong những nổi nhẩn nhục ấy
: "
Lấy gia đình chồng làm gia đình mình ,coi bố mẹ chồng như bố mẹ đẻ biết đâu lại không tìm thấy hạnh phúc ở chỗ đó " Nhưng " cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng ", sau cùng thì "tức nước phải vỡ bờ". Thảm cảnh đã xảy ra sau khi con cô bị chết vì bệnh, một chứng bệnh mà lẻ ra đứa bé không đáng chết nếu được các bác sĩ Tây Y chăm sóc thay vì chữa trị bằng thầy ngải, thầy bùa, uống tàn nhang nước thải theo ý bà Phán Lợi.

Tuy sống trong gia đình chồng, nhưng Loan lúc nào cũng có những sự phẩn nộ thầm kín, khinh rẻ những thói phong kiến, trong gia đình chồng. Ta hãy đọc một đoạn những suy nghĩ của Loan trong ngày đám cưới Thân lấy vợ lẽ là Tuất để thấy sự khinh bỉ những hủ tục của cô:
"Loan cúi mặt không dám nhìn cái cảnh Tuất cúi rạp trên chiếu lễ tổ tiên vá lễ ông Phán, bà Phán. Vì cảnh đó làm Loan nhớ mấy năm trước hồi nàng bước chân vè nhà chồng, Nàng thấy nàng hồi đó cũng như Tuất bây giờ, địa vị nàng và Tuất tuy có hơi khác, nhưng cũng là những con người bị người ta mua về, hì hục lạy người ta để nhận làm cái máy đẻ, làm con Sen hầu hạ không công. Khi Loan được người ta cưới về làm vợ một cách chánh thức những lể nghi đó không có cái vẻ giả dối bằng bây giờ khi người ta đem nó ra che đậy, và hơn nữa để công nhận một sự hoang dâm."
" Ở đây ta lại thấy Loan là người chiến sĩ cô đơn, cô tả xung hữu đột để chiến đấu với số phận, ngoài "kẻ thù " là chồng và gia đình bên chồng ,cô còn phải đấu tranh với những quan niệm cổ hủ của chính gia đình cô, chính cha mẹ ruột của mình nặng hủ tục "Trọng nam khinh nữ ". Đó là một sai lầm của Khổng Tử, sai lầm nầy có thể cố ý hay vô tình phục vụ cho chế độ phong kiến, khi mà tinh thần Hán tộc cần những tay kiếm tay cung để xâm lăng và chống đở khi bị xăm lăng trong thời Xuân Thu Chiến Quốc.

Ta hãy xem Loan đã trút nỗi lòng của mình trong một bức thư viết cho người bạn là bà giáo Thảo như sau:  
" Em sinh ra là gái để bố mẹ em ân hận bấy lâu nay , em không nở trái lời lần cuối cùng nầy để thầy mẹ em suốt đời phải phiền muộn. Từ nay trở đi em sẽ lấy nụ cười che lấp sự ủ rủ trong lòng" .

   4..2- NHÂN VẬT DŨNG: Dũng cũng là một nhân vật chính diện trong Đoạn Tuyệt, nhưng vai trò của anh dường như mờ nhạt trong những nghịch cảnh mà Loan gặp phải. Anh chỉ xuất hiện màn đầu rồi màn cuối của cuộc đời Loan để có môt kết cục khá có hậu, dù cái có hậu đó còn lửng lơ trong sự suy nghĩ của người đọc. Dũng trong Đoạn Tuyệt từ vai chính đã trở thành vai phụ. Dũng yêu Loan bằng một tình yêu trong sáng, cao cả, lồng trong một tình yêu lý tưởng rộng lớn hơn. Đó là lý tưởng phải làm gì cho dân tộc, cho những người dân đen thoát ách lầm than nô lệ của chế độ phong kiến. Dũng đã bôn ba những nẻo giang hồ để tìm ra một hướng đi dấn thân cho thích hợp với những hoài bảo của mình. Anh đã vì lý tưởng mà quên tình nhà.

Ta hãy đọc tâm sự của Dũng để hiểu thêm vì sao anh đã đặt tình nước trước tình nhà:

" Tiếng người gọi nhau dưới đồng đưa lên khiến Dũng nghĩ đến cái đời của dân quê, cái đời lạnh lẻo, vô vị kéo dài đã mấy nghìn năm. Đã mấy ngàn năm họ sống bám lấy mảnh đất già cổi ,Xưa thế nào giờ vẩn thế , vui ít khổ nhiều, bao giờ cũng thảm đạm như buổi chiều đông nầy , không hề khao khát cảnh đời sáng sủa hơn, mong ước một ngày mai tốt đẹp hơn ngày hôm nay "

Ta hãy đọc tiếp đoạn Dũng nghĩ về đất nước

:" Chiều hôm ấy Dũng thấy tâm hồn của đất nước, mà biểu hiện cho đất nước ấy không phải là của bậc vua chúa danh nhân , chính là đám dân hèn không tên tuổi Dân là nước, yêu nước chính là yêu chung đám thường dân, nghĩ đến sự đau khổ của đám thường dân "
.
Hay những đọan Dũng tự nhắn nhủ với mình:

" Tôi vẫn thường mong ước dân quê đở phải chịu hà hiếp, bức bách. Ta phải tin rắng sự ao ước ấy có thể thành sự thật và làm cho dân quê cũng ao ước mong một cách tha thiết như ta " Trên bước đường đi thực hiện lý tưởng, Dũng đã say mê những bối cảnh quanh mình mà quên mất Loan, người tình của mình bên kia bờ quá khứ, ta hãy đọc những gì mà Dũng suy nghĩ:

Quanh năm xuôi ngược, dừng chân lại ít ngày ở đồn điền một người bạn thân, ngồi nhàn nhã uống cốc rượu tiển năm trong một toà nhà gạch sang trọng, Dũng vẫn cảm thấy mình là một người dân và càng cảm thấy cái thú man mác được hoà hợp với đám dân không tên tuổi. Nhưng trong cái thú hoà hợp đó có lẫn chút rạo rực, nao nức vì chưa được thỏa nguyện về hiện tình cuả dân quê, nên khoa khát, mà sự khao khát không diễn được nên lời ấy, nó bắt Dũng tin ở sự thay đổi, tin ở công Dũng làm trong bấy lâu, và có lẽ làm mãi, chưa biết bao giờ ngừng "

Một buổi chiều cuối năm, một buổi chiều êm như giác mộng, mấy cây thông ở đầu hiên nhà đứng lặng yên đợi gió. Dũng và Độ hai người thẫn thờ không nói, ngã đầu vào lưng ghế nhả khói thuốc từ từ tản ra ngoài nhà rồi tan vào khoãng không.

Trong " Đoạn Tuyệt " theo tôi nghĩ dường như Nhất Linh có phần nào để nhân vật Dũng đi xa cốt truyện, xa cái tiểu ngã mà chỉ chú tâm cái đại ngã. Nếu xét trên bình diện tình cảm lãng mạn thời đó dù biện minh cách nào đi nữa Dũng vẫn là người có lỗi sơ sót, thờ ơ với người tình. Nhưng may thay, Dũng đã thấy khuyết điểm và chuộc lỗi bằng cách quay lại âm thầm theo dõi phiên Toà xử Loan, rồi sau đó khi biết Loan được trắng án Dũng mới nghĩ đến sự kết hợp tình xưa để cả hai làm lại cuộc đời. Anh đã viết thơ tâm sự cho bà gíáo Thảo:

" Hai người cùng đau đớn như nhau tại sao lại không về với nhau để cùng chung sống một cuộc đời mà giúp nhau quên cái quá khứ nặng nê kia đi " . .  

4.3- NHÂN VẬT LUẬT SƯ:

Trong Đọan Tuyệt nhân vật Luật Sư chỉ xuất hiện ngắn trong phiên Toà xử Loan, ông xuất hiện trong cao trào tác phẩm như một tuyên ngôn thế hệ. Vai trò của ông không phải là người biện hộ mà chính là người kết án, kết án một thế hệ lổi lầm từ ngàn xưa đã làm cho biết bao cuộc đời người con gái sống chết trong oan trái chỉ vì nô lệ cho những chữ "Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử " " tam tòng tứ đức". Ta hãy nghe lời Luật Sư giải phóng cuộc đời nô lệ đó cho những thế hệ sau bằng những lời đanh thép:

" Giữ lấy gia đình, Nhưng xin đừng lầm giữ gia đình với lại giữ nô lệ. Cái chế độ nô lệ đã bỏ từ lâu rồi mỗi lần ta nghĩ đến không khỏi rùng mình ghê sợ. Ấy mà có ai ngờ đâu còn cái chế độ khốn nạn đó trong gia đình Việt Nam Sau khi biện hộ chứng mình rằng Loan không cố ý giết chồng, mà ngộ sát vì tự vệ, và  dẫn chứng có rất nhiều trường hợp những cô gái như Loan  đã uống thuốc độc để giải thoát cho mình. ông kết luận:

"Thị Loan chỉ có một tội là cắp sách đi học, để tâm trí thành một người mới còn về chung sống với người cũ. Nhưng tội ấy Thị Loan đã chuộc lại bằng bao nhiêu năm đau khổ. "
Và sau cùng đây là tuyên ngôn cuối cùng:
- Tha cho Thị Loan tức là các ngài làm một việc công bằng , tức là tỏ ra rằng chế độ gia đình vô nhân đạo kia đã đến ngày tàn và phải nhường chổ cho một gia đình khác hợp với cái đời bây giờ, hợp với quan niệm của những người có học mới

4.4-NHÂN VẬT THÂN:

Thân là một nhân vật phản diện chỉ có vai trò phụ. Thân đại diện cho một lớp thanh niên ngu dốt, hủ hoá, an phận, không có đầu óc tự lập. Một thứ công tử vườn kiêu căng chấp nhận số phận ngu hiếu, ngu trung cuả thời phong kiến.
Khi Loan ngõ ý bàn với Thân ra Hà Nột lập tiệm buôn bán, tự lập sinh nhai với mục đích chính là rời xa cái ngục tù cổ hủ bên gia đình bà Phán Lợi. Tự ái vặt của một kẻ ít học với quan niệm gia trưởng chồng Chúa vợ Tôi, hắn đã hét lên:

" Mợ không phải nói nhiều, tôi lấy mợ về để không phải mợ dạy khôn tôi, việc của tôi để tôi lo. Thân danh tôi như thế nào mà làm anh bán phiếu, mợ coi thế là tiện lắm hả "
Cái chết của Thân chính là ngòi nổ cho thảm cảnh gia đình Loan bộc phát, là cao trào của cốt truyện, là một thắt gút chặt cuối cùng trong cái xâu chuỗi của tất cả những sự kiện. Cái thắt gút ấy không thể tháo gỡ một cách bình thường, nhân nhượng, mà chỉ phải cắt bỏ, và tác giả Nhất Linh đã cắt bỏ bằng một phiên Toà thật kỳ diệu. Kẻ đầu cáo lại trở thành bị cáo. Một thế cờ lật ngược theo xu hướng tất yếu của đời sống.

4.5- NHÂN VẬT BÀ PHÁN LỢI:

Nhân vật bà Phán Lợi là nhân vật phản diện chính trong tiểu thuyết : Đoạn Tuyệt " của Nhất Linh, đây là người chủ yếu khuynh đảo, gây những sóng gió cho cuộc đời của Loan với tư cách mẹ chồng. Người đàn bà đẩy đà nầy nặng tinh thần phong kiến cổ hủ, mê tín dị đoan, độc tài cai trị gia đình với tinh thần " gia trưởng " trầm trọng. Ngay cả chồng là ông Phán Lợi , và đứa con cưng là cậu ấm Thân, cà hai đều phải phục tùng riu ríu dưới lệnh của bà .Khi cưới Loan về làm dâu, với cái nhìn phong kiến " trọng nam khinh nữ ", bà quan niêm làm dâu chính là làm con sen, con ở, làm cái máy đẻ cho giòng họ. Là người đàn bà coi trọng tiền của, bà coi Loan như một món hàng mua về để sử dụng, đã bỏ tiền ra ( để trừ món nợ ba ngàn của mẹ Loan ) thì phải sử dụng cho đáng nên bắt Loan làm đủ mọi chuyện như kẻ tôi đòi.

Bà đã nhiều lần sử dụng đòn roi, đánh đập Loan khi làm không vừa ý bà, tạo cho Thân ( chồng Loan ) bắt chước mẹ đánh đập vợ một khi có cảnh xung khắc, cãi vã trong gia đình. Về điểm nầy, ta có thể nói rằng cái chết của Thân cũng một phần nào nhiễm tính hung hăng của mẹ, nếu hôm đó Thân không cầm chíếc bình sấn tới đánh Loan khiến cô phải chụp con dao để tự vệ thì đâu có thảm cảnh xảy ra. Lại nữa, khi con Loan bệnh, bà không cho đi bác sĩ mà cho trị kiểu mê tín dị đoan bằng bùa phép, uống tàn nhang nước thải đến khi đưa cháu bé vào bệnh viện thì đã muộn, lại còn trút lỗi cho các bác sĩ. Nhà văn Nhất Linh đã rất hay khi dùng ngòi bút để vẽ lên một người đàn bà đẩy đà, ngu dốt, tham tiền của, độc tài, cai trị gia đình theo lối gia trưởng, phong kiến lạc hậu, thù ghét người con dâu có cái kiến thức Tây học một cách "thâm căn cú đế "

Đó cũng là cái hận thù của lề lối sống cũ, cái nhìn cũ đầy hủ tục phong kiến đối cái mới, cái nhìn mới, đang giải thoát cho bao tầng lớp phụ nữ không còn làm nô lệ cho thành kiến, định kiến, cho sự chà đạp nhân phẩm con người từ nghìn xưa.
.
Cái chết của Thân, là cái chết từ lỗi lầm của thời phong kiến, đó là cái chết cũa quan niệm cũ, cái nhân sinh quan nặng nề ấu trĩ của Khỗng Tử, Mạnh Tử. Đó là cái dẫy chết, và sẽ chết của tinh thần cũ, một tinh thần coi người phụ nữ như con vật không hơn không kém, chà đạp nhân phẩm người phụ nữ dưới chiêu bài đạo đức " tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tữ tòng tử ".. Quan niệm "Trọng nam khinh nử " theo hệ thống triết lý Khỗng Mạnh chính là một sai lầm, một hạt sạn lớn trong lý thuyết đạo đức của họ, nhằm phục đích phục vụ cho chiến tranh thời Xuân Thu Chiến Quốc, tạo thêm nhiều tay cung, tay kiếm cho cuộc tranh bá đồ vương giửa các nước đi xăm lăng và bị xăm lăng

Cái thua của bà Phán Lợi trước Toà Án khi khởi tố Loan về tội giết người ( và hơn nửa là giết chồng ), muốn Loan phải bị tội thật năng nhưng Loan lại được tha bổng, trắng án, vô tội, chính là điềm báo hiệu cho thấy thời suy vong của quan niệm luân lý phong kiến đang đến, nó đang từng hồi dẫy chết trước sức mạnh như vũ bão của những quan niệm luân lý mới, " mọi người đều bình đẳng ", nhân quyền của phụ nữ phải được tôn trọng.

Phiên Toà xử Loan là chính phiên Toà của  lương tâm, những ngưổi tham dự phiên Tòa, chiến thắng, chính là những người của lương tâm, Họ từ đạo lý mới bước ra như một  Spartacus giải phóng những người nô lệ từ thời La Mã. Họ đã  thấy cái gót chân của  Achille hay nhúm tóc của Samson thời Khổng Mạnh để mà đánh thẳng vào, hạ gục kẻ thù.


.5- KẾT LUẬN
Nhận định chung theo tôi Đoạn Tuyệt là một quyển Tiểu Thuyết hay, hay trọn nghĩa về văn phong cũng như những tình tiết cốt truyện. Với " Đoạn Tuyệt " từ đầu đến cuối tác giả đã khéo dàn dựng một cách rất logic sự kiện, đưa người đọc không phải bỏ trang nào Không phải tò mò cốt truyện rồi sẽ ra sao, mà tò mò vì muốn biết lý luận, tranh cải giữa hai bên cái mới và cái cũ thế nào, giữa cái bộc phát mới còn non yếu và cái cũ đã gìà cỗi và ai thắng ai?. Phần cốt truyện, chúng ta cũng đả rõ. Tôi muốn lấy phần Kết Luận của Entry (mở đầu) nầy để nói vài điều về Kết Cấu cuốn tiểu thuyết của Nhất Linh.

Thông thường ,cuốn tiểu thuyết như một con người có phần hồn và xác. Hồn chính là tư tưỡng, phân tách tâm lý, diễn đạt nội tâm của nhân vật.Xác là cách hành văn, cách bố cục, cách xâu lại những sự kiên không làm cho độc giả hụt hẩng, bở ngớ..
Sau cùng có một phần hổn hợp giữa xác và hồn, đó là kết luận. Kết luận một tác phẩm chính là Kết Cấu Toàn Diện hai phần văn chương và lý luận vào một chủ thể tuyệt đối của truyện. Trong " Đoan Tuyệt " của nhà văn Nhất Linh, phần cuối truyện tác giả mới tạo những điều kiện để Loan và Dũng có cơ hội đến với nhau trong tình yêu dù muộn màng. Loan bắt đầu một đời sống theo ý mình sau bao nhiêu năm bị dập vùi trong những hủ tục phong kiến. Sự kết thúc một cách có hậu, xóa đi cái cũ mở ra cái mới theo đúng sự chờ mong của người đọc. Một cách kết cấu làm sáng tỏ sự thắng thế của chân lý thời đại, đó là cách kết cấu thật nhân bản, không cải lương, không gò ép.

Thường trong tác phẩm nào cuả văn học cũng có một nội dung nghệ thuật chính là Kết Cấu cốt truyện. Nó như những toa xe của con tầu được kết nối để về đến ga một cách bình yên cho hành khách khi đọc Kết cấu chiính là sự tương quan giữa các yếu tố nội dung, hình thức trong tác phẩm. Nội dung tác phẩm gồm những hoàn cảnh sự kiện, hành động tư tưởng nhân vật. Thường khi sáng tác một tác phẩm văn học, tác giả có nhiều cách chọn lưa kết cấu cho tác phẩm của mình như kết cấu đa tuyến, kết cấu đơn tuyến, kết cấu tâm lý , kết cấu luận đề, kết cấu đa nguyên, kết cấu hồi tuyến. Dựa theo chủ đề tác phẩm mình viết, mà tác giả chọn loại kết cấu nào cho phù hợp với tiểu thuyết của mình, cho công chúng dễ hiểu.

Trong " Đoạn tuyệt " ta thấy Nhất Linh đã sử dụng loại Kết Cấu Luận Đề. Luận Đề đây chính là sự đấu tranh một mất một còn giữa "cái mới" và "cái cũ," "cái mới "đấu tranh chống "cái cũ "phong kiến lạc hậu ,lỗi thời để “Đoạn Tuyệt ” với quá khứ, giải phóng người phụ nữ sau mấy ngàn năm mang chiếc ách nặng nề trong mớ luân lý " tạp nham" của "Cửa Khổng Sân Trình". Cái chết của Thân chính là cái chết của cái cũ, của thời đại cũ, sự thất bại của bà Phán Lợi trong phiên Toà xử Loan là sự hấp hối dẫy chết của những hủ tục phong kiến sắp đến ngày tàn lụi "Đoạn Tuyệt " không có nghĩa là chỉ giải thoát cho Loan, cho Dũng ra khỏi cuộc đời tối tăm của quá khứ, mà còn là cho tất cả chúng ta, của những người yêu quê hương một cách đích thực ngày nay.
Nhất Linh là một nhà văn mà tôi ngưỡng mộ từ khi học Văn bậc Trung Học,Thư viện cá nhân của tôi dành một chỗ rộng cho những tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn. Những loại sách của Nhất Linh viết ,ông không dùng một văn phong nhất định mà uyển chuyển theo từng chủ đề cá biệt, nó biến thể một cách tuyệt vời từ "Đoạn Tuyệt" qua " Lạnh Lùng " , từ " Gánh Háng Hoa " đến " Anh phải Sống " từ " Hai buổi chiều vàng " đến " Bướm Trắng "
Về tư tưởng cũng vậy, cũng đồng thời cùng một chủ đề " Cái Mới " và " Cái Cũ " nhưng ông đã viết hai khuynh hướng khác nhau.như "Đoạn Tuyệt " và "Nửa Chừng Xuân" hay " Lạnh Lùng " Trong " Đoạn Tuyệt " sự đấu tranh giữa "cái mới " là Loan, Dũng, Luật sư với cái cũ hủ lậu là Bà Phán Lợi, Thân là đâu tranh không khoan nhượng, một mất một còn, còn trong " Nữa Chừng Xuân " sự đấu tranh giửa Mai và Lộc với bà Án là cuộc đấu tranh nữa vời. Một kết cục không có hậu, một cách kết cấu đa nguyên.

HUY THANH

_________________
I stand with Ukraine

Cầu nguyện cho Ukraine
LDN

LDN


Back to top Go down

Thumb up Re: Sách

Post by LDN Yesterday at 7:07 am

Phân tích nhân vật Mai của ông này đọc rùng mình. Nếu cô ta bình thường nếu 0 nói là tầm thường như ông ta suy diễn thì cô ta lấy ông bác sĩ hay họa sĩ chứ ở vậy khi nửa chừng xuân làm gì. Ý ông Khái Hưng là chống chuyện vợ bé vợ lẽ nên cô Mai mới như thế, như vậy. Ông này chắc 0 hiểu ý chính của truyện 😆😄😂😅🤣

Phân tích nhân vật Lộc thì ok, đúng. Ông Lộc thì có tầm thường, 0 hiểu rõ con người cô Mai nên mới nghi ngờ v.v...hồi xưa đọc thì thấy cái kết buồn, 0 có hậu, nhưng giờ nghĩ lại ông Lộc như thế và bà mẹ như vậy, oh je
 

DinhHoangThien

MẤY Ý NGHĨ VỀ TIỂU THUYẾT" NỬA CHỪNG XUÂN"(Tiểu luận phê bình)
                            (   NỬA CHỪNG XUÂN- KHÁI HƯNG - Nhà xuất bản Đời Nay , Hà Nội 1934 )

Cuộc vui đến nửa chừng mà bị kết thúc thì nó thực không hay cho những người tham dự.Rượu,bia...chưa được uống hả hê,chưa đi đến bến bờ của trận say túy lúy,món ngon vừa khai vị chưa đủ lượng để làm đã cơn thèm,cơn đói người ta đã phải đứng lên. Câu chuyện mới chỉ vừa thả lời mở nút ... bản nhạc vừa qua đi khúc dạo đầu ... tất cả đều dừng lại lỡ dở ... Bỏ dở ở nửa chừng cũng có lúc nó gây cho người ta nỗi nhớ , sự thèm thuồng được mang theo để hẹn ngày trở lại , nó làm sống trong cảm quan của người tham dự một sự sống của sự cảm nhận . Nhưng nó cũng gây tức tối cho không ít người , những người không chịu được cái dở dang đã ăn là phải no , đã uống là phải say , đã tranh luận , đã chuyện trò là phải đi tới hồi kết .

Nửa chừng xuân của Khái Hưng ở đây miêu tả cuộc tình – cuộc sống như vợ chồng – của Mai và Lộc đành bỏ dở nửa chừng . Một cô gái , không biết học hành đến đâu , nghề ngỗng là gì , mồ côi mẹ , rồi mới vừa mồ côi cha , một cụ Tú dậy học , ở cái tuổi mười chín , gặp gỡ một người “ anh “ ngày xưa , rồi được anh yêu và cô cũng đem lòng yêu anh ta , hai cô cậu về ở với nhau như vợ chồng được gần một năm cho tới ngày Lộc về nói thật với mẹ mình là bà Án thì bị tan vỡ do bà Án không đồng ý , không cho Lộc lấy Mai làm chính thất . Do Mai cự tuyệt không lấy lẽ Lộc như gợi ý của bà Án và vì lòng tự ái , tự trọng cao nên Mai đã cùng Huy là em trai mình bỏ nhà , căn nhà mà Lộc đã thuê để họ cùng ở ở phố Yên Phụ bên hồ Trúc Bạch , ra đi bơ vơ trong lúc đang bụng mang dạ chửa và việc học hành của em cũng chỉ còn một tháng nữa là kết thúc . Ở cái tuổi mười chín , đôi mươi Mai sinh con , rồi sống vậy bên người em trai – Nửa chừng xuân – không chồng trong khi đang lơ lửng trong tuổi xuân . Một cô gái vừa lớn lên , mới vừa được hưởng cái êm diệu của ái tình , mới vừa cảm nhận được cái mùi đời , cái vị ngon ngọt của tình ái đã phải chia lìa nó mà sống dang dở với “ giá vẫn trong sương vẫn trắng “ thì thật là tội nghiệp . Nhưng duyên cớ bởi vì đâu ? Cái gì đáng bị lên án , cái gì đã chà đạp lên hạnh phúc lứa đôi, cái gì đã chia rẽ đôi uyên ương này phải mỗi người một ngả .

Ông Khái Hưng cho rằng Lộc là con người đã nhiễm những tư tưởng tự do của Âu Tây , đã được tiếp nhận một nên học vấn Âu Tây , nơi mà tự do cá nhân được tôn trọng và chắc là Mai cũng vậy vì có hôm cả Mai , cả Lộc và Huy cùng ngồi say sưa dưới chân đồi hát bài hát tiếng Pháp ( Huy và Lộc hát ) . Tuy nhiên cả Lộc cả Huy và Mai cùng chưa từng qua Pháp , chưa biết được cặn kẽ cái tự do cá nhân ở Pháp , ở Âu Tây nó như thế nào , nó ra răng , chưa biết được cái “ luồng gió lãng mạn cuối mùa “ thổi qua ta có lành , có tốt để khỏi phải cạo gió hay không . Tuổi trẻ thích cái mới , thích khám phá cái lạ , nhưng nếu biết đứng trên những giá trị truyền thống , biết lấy các giá trị truyền thống làm kim chỉ nam , làm trục cho các dao động kiểu như dao động hình sin quanh trục của nó thì cái mới , cái lạ được tiếp thu và hấp thụ tốt . Ở Pháp cũng như ở Tây Âu tự do cá nhân được đề cao , nhưng ở đó cũng là nơi của pháp trị . Trẻ em phương Tây được giáo dục tốt và việc chấp hành pháp luật và tôn trọng sự chỉ bảo của phụ huynh cũng được bọn trẻ chấp hành nghiêm túc . Đến 18 tuổi thanh niên châu Âu không bị ràng buộc bởi bố mẹ và gia đình cũng như người bảo mẫu (Betreuer ) hay gì khác . Họ phải tự chịu trách nhiệm về các hành vi của mình , tuy thế , trước đó họ đã được giáo dục về tự lập , về sự cần thiết phải chấp hành các quy định của pháp luật .v.v. Không có chuyện những người đi xe đạp lại tung tăng ra đường lớn khi đã có một lối nhỏ ghi là lối dành cho xe đạp , .không có việc phải xây gờ phân làn vì chỉ cần dùng bảng hiệu là đủ . Con người phải biết kỷ luật trước khi được tự do quyết định các hành vi của mình . Nếu ở một xã hội như xã hội An nam ngày đó phần lớn người ta chưa được đào tạo về dân chủ và tự do, 95% dân số còn chưa biết đọc , biết viết mà ta đón ngay cái tự do Âu Tây thì sẽ gây ra một cái “ chao “ trong xã hội ta . Mai và Lộc rõ ràng là chưa được chuẩn bị đầy đủ cho một cuộc sống theo luồng gió mới . Họ chưa xứng đáng là những người đi tiên phong đấu tranh và làm mẫu mực cho tự do hôn nhân và chế độ một vợ một chồng.

Rõ ràng cái cách Mai về sống chung với Lộc như vợ chồng ở xã hội ta giờ này,năm tháng của thế kỷ 21 này còn có thể chấp nhận được(chứ hay ho và đoan chính thì vẫn phải còn cân nhắc)chứ vào cái thời điểm năm 1933,1934,khi mà hệ tư tưởng phong kiến đã bao đời ăn sâu vào nếp sống của từng cá nhân và gia đình Việt nam thì đó là một sự tác loạn.Độc giả có thể thông cảm cho Mai khi cô lấy việc thực hiện lời mong ước của người cha là cụ Tú Lãm nuôi em là Huy đang theo học năm thứ ba trường Bưởi thành tài và trở thành người hữu ích.Nếu sự hy sinh này(sự hy sinh của Mai) vì sự thành đạt của người em trở thành mục tiêu chủ đạo xuyên suốt mọi hành động của Mai thì cái việc Mai phải dở dang nửa chừng xuân sẽ làm ta động lòng thương xót cô và cô sẽ được nhìn nhận là một người hoàn toàn.Nhưng không phải như vậy,lòng tự ái, tự trọng cúa Mai,sự hờn ghen trong ái tình của Mai vẫn cao hơn khi mang cân nó với những thành quả trong học tập sắp được gặt hái của Huy.Mai tỏ ra là một đứa con gái nhà quê nông nổi,không có tính kiên trì,khôn khéo mặc dù cô đã nhận được sự giáo dục dạy giỗ của người cha từ nhỏ cho tới tuổi trưởng thành(khi cô lên 18 thì cha cô mới mất).Bổn phận cô là phải lấy lòng bà Án(dù cho cô có cái quyền được tự do kết hôn như bây giờ-khi đó thì cô chưa có,cô cùng với mọi người đang phải đấu tranh để có,thì việc kính trọng một người mẹ của người yêu trong buổi đầu gặp gỡ phải được đặt lên hàng đầu)thế mà chỉ vài câu đối đáp cô đã xem như nguyện vọng của mình không được xem xét và cô hỗn láo với bà Án kiểu cá mè một lứa với bà Án ngay.Biết đâu khi bà Án nói:”tôi biết rồi,cô không yêu con tôi,cô chỉ thích làm bà tham,rồi nay mai làm bà huyện...”là chỉ muốn chọc tức Mai để xem con người cô khi tức lên thì sẽ hành xử, nói năng như thế nào.Một người có giáo dục trong khi tức giận người ta cũng không thể văng ra những câu, những từ hỗn xược.Cụm từ của Mai:”còn kém bà Án một tí” với cái cách Mai mĩm cười,rồi cái thách thức của cô:”anh xe đó bà lớn truyền cho gọi đội xếp”...không chỉ nói lên rằng Mai chảnh,mà,cùng với những cái kiểu cười “khanh khách” của Mai khi Lộc thì lo lắng nói về cái hoàn cảnh cụ thể của họ mà Mai cứ vô tư làm cho độc giã không rõ rằng Mai theo đuổi cái gì,cái gì là quan trọng đối với Mai.Thời của Mai việc chữa trước khi cưới hay việc có chửa mà không có cưới xin là cả một việc quan trọng ấy thế mà Mai lại không cho là thế,không biết ông đồ bố cô đã dạy cho cô những gì.Cô để danh dự của bố mẹ cô ở dưới,cô đứng lên trên những lề thói của xóm làng,xã hội vì”một tính tình cao thượng,những hành vi quân tử”của Lộc mà độc giả không được nhìn thấy ở chỗ nào.Cô đã vì Lộc mà” hy sinh hết trinh tiết cùng danh dự,hy sinh cả cái đới thanh niên”nếu chỉ cốt để có tiền cho em ăn học thành tài,hay nếu thấy ở Lộc một tình yêu đắm say mảnh liệt vượt ra ngoài lề thói của gia đình,một tình yêu mà cái lửa đắm say và nhiệt thành của nó có thể gắn kết họ không thể gì chia tách được.một tình yêu không có khe hở cho ai chen vào hòng ngăn cách lứa đôi...nhưng không chỉ một màn cảnh dàn dựng không lấy gì làm khôn khéo mà Lộc đã mắc bẫy để cho tình yêu rơi tuột.Thử hỏi thứ tình yêu mà Lộc dành cho Mai như vậy có mạnh không?Cậu ta không hề ray rứt khi về cưới và sống chung với vợ mới;,mặc dù đầy tớ trong nhà có rất nhiều kẻ là tay chân của Lộc,mà cái sự kiện bà Án cho một người đưa thư đóng giã như đày tớ của tình nhân khác của Mai mà Lộc đã nghe ba bốn năm lượt lại không vỡ lở? Nếu tình yêu của Lộc dành cho Mai có sức mạnh thì làm sao Lộc không truy tìm sự thật.Sau những phút giây hồ đồ thi con người thường tĩnh tâm lại để suy xét.Phải chăng các tình tiết này,các sự việc này nó phải xảy ra để phục vụ ý đồ của tác giả,chứ không thải theo lô gichs cuộc sống..Sự phát giác của Huy về việc Lộc đã nói dối trong cái việc đưa tới nhà một bà mượn ở đâu đó nói là mẹ Lộc,để hỏi Mai cho Lộc cũng không làm cho Mai thấy lo lắng chứng tỏ Mai bất chấp tất cả,chỉ cho ái tình là trên hết,nhưng chính Mai cũng lại cũng xem ái tình nhỏ hơn lòng tự ái,tự trọng.Cô đã từng nói với Lộc khi Lộc bảo cô: “Sao em nhẫn tâm bằng lòng để anh lừa dối?”.Cô đã trả lời:”Không,anh không hề lừa dối em gì hết.Em được anh yêu như thế là đủ lắm rồi.Em có cần gì bà cụ đến hỏi em cho anh làm vợ là mẹ anh hay không phải là mẹ anh.”Ta có thể thấy ở đây có yếu tố nổi loạn của lớp trẻ,xem ý kiến của cha mẹ và gia đình không là một cái gì hết. Ở thời đại ngày nay thanh niên choai choai cũng có xu hướng xem thường các lời khuyên ngăn của bố mẹ , đi tụ tập đám đông để “ tự khẳng định mình “ , rồi lao vào các cuộc đua xe như thác loạn , rồi đưa nhau đi nạo thai , phá thai bừa bãi , thực tế là không muốn đẩy xã hội tiến lên , mà bằng lối sống đấy bộ phận thanh niên này muốn loài người quay lại kiếp sống bầy, sống đàn như nguyên thủy .

Việc Mai biết không phải mẹ Lộc đến hỏi Mai cho Lộc mà Lộc đã phải đi mượn một người khác cũng có nghĩa cô biết mẹ Lộc không đồng ý cho Lộc yêu cô, lấy cô . Như vậy cô đã được chuẩn bị về mặt tâm lý để đón nhận thử thách này . Tình yêu lớn phải qua thử thách mới đo được cái mức độ nó lớn đến đâu . Sự kiên trì thuyết phục và sự bày tỏ thể hiện mình xứng đáng làm con dâu , xứng đáng với tình yêu của con trai bà Án “ cổ hủ “ trong các lễ nghi phong kiến của Mai là không đủ để người đọc thấy cái tính sắt đá vô cảm của những bà nhà giàu có quyền , có thế .Người đọc không thấy ghét bà Án , không thấy phẫn nộ gì về bà cả , bởi một bà mẹ làm mấy cái việc ấy vì con mình , muốn tìm cho con mình một chỗ môn đăng hộ đối , một gia đình bố mẹ vợ tốt cho việc tiến thân của con thì cũng hiểu được thôi , có gì là kì quái đâu . Bà Án không bắt Mai hay khuyên Mai phải uống thuốc trừ bỏ cái thai nhi , ngược lại bà còn chỉ cho Mai một con đường , một lối thoát đấy là lấy lẽ Lộc . Ở thời đại nam nữ bình quyền , chế độ một vợ một chồng như ngày nay ở ta , hay ở xã hội nam nữ bình đẳng như ở Tây Âu thì điều đó nghe thật không thể chấp nhận được . Thật ra ở châu Âu việc yêu nhau rồi có thai , có chửa ra sau đó không yêu nữa cũng chẳng sao . Hai người phải cùng có trách nhiệm nuôi dưỡng đứa con thôi . Đồng ý cho Mai lấy lẽ Lộc là bà Án đã tránh cho Mai cái tiếng chửa hoang là tránh một sự nhục nhã xấu xa cho cả gia đình và dòng họ của Mai . Đã có thời con gái chửa hoang phải đưa đi cho voi dày , đưa đi đóng bè thả sông , cái tiếng chửa hoang thời của Mai là rất ghê gớm . Ở cái thời ấy ai công nhận , ai bảo Mai là vợ của Lộc ? Việc họ nói họ là vợ chồng nó “ tân tiến “ vượt thời đại họ đến cả một thế kỷ . Ngay cả ở ngày nay việc xem xem Mai và Lộc như vậy có phải là vợ chồng hay không cũng còn phải bàn cãi nhiều . Việc bà Án bảo Mai khi đi thì qua nhà bà bà sẽ chi cho Mai khoản tiền để cô trang trải cho thấy bà cũng không phải cạn tàu ráo máng . Bà không mắc vào những tội ác . Mai không đến , cũng không chia sẻ gì với Lộc mà đùng đùng bỏ nhà ra đi là thể hiện thái độ bất cần , khiến cho người đọc cũng có tính tự ái cao cũng đồng tình , nhưng nó lại làm cho phần lớn người ta thấy rằng cô không phải là “ người yếu “ , cô chưa năn nỉ hết điều , cô chưa chịu đấm ăn xôi mà xôi lại ẩm . Nếu cô chịu đấm ăn xôi , chịu nhục van xin , năn nỉ bà Án chấp nhận mình nhiều nhiều nữa thì cô cũng không bị độc giả xem thường bởi cô làm vậy là vì tình yêu , vì sự thành đạt của em cô và như vậy tính hy sinh ở cô mới được phơi bày . Ở đời người ta hay thương người yếu . Mai chưa thể hiện hết cái yếu mềm , mà ngược lại còn có phần cứng cỏi . Có thể vì cái cứng cỏi , bất cần này mà có người sẽ cho cô là “ đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm “ đáng kiếp cái là con gái mà không biết tự giữ mình .

Câu chuyện đáng lẽ phải làm cho độc giả thương Mai , yêu quý Mai và ghét bà Án , căm thù bà Án thì nó đã không làm được . Bà Án ở đoạn đầu hay đoạn cuối xuất hiện với lời lẽ , cử chỉ chấp nhận được . Lời xin lỗi Mai của bà nếu có không thật lòng thì nó cũng đúng lễ nghĩa . Ta cho rằng nếu đứa con dâu bà chọn cho Lộc mà sinh cho bà được những đứa cháu khỏe mạnh thông minh thì chắc chẳng bao giờ bà “ hối hận “ mà hạ cố đến nhà Mai , nhưng như vậy là bà cũng biết mình , biết cái thế của mình , lúc nào phải nhún nhường , lúc nào thì kênh kiệu . Bà cũng như các bà ,các cô con ông cháu cha , vợ ông này bà kia ở thời đại chúng ta thôi . Nhiều bà vợ các ông cốp ở thời xã hội chủ nghĩa này có khi còn quá quắt hơn bà Án .

Không hy vọng được gì ở cái ông tham Lộc , một anh chàng chỉ thấy có nhiều nước mắt . Lộc được học cái nền học vấn Âu Tây , nhưng cũng là Âu Tây nửa vời . Trong truyện Lộc hiện ra như những cậu ấm thời nay , thuê nhà riêng với gái , ra ngoài vòng kìm tỏa của cha mẹ . Cậu quan hệ với người ta để con người ta có bầu rồi vin vào một cái cớ chắc cô ấy trốn nhà đi với người đã kí tên Ng.. Y để về với gia đình sống êm đềm bên một cô gái khác không bị dằn vặt , không ngẫm nghĩ suy xét . Một “ quan tham “ như vậy thì độc giả mong đợi được gì cho sự đấu tranh đòi tự do yêu đương , đòi chế độ một vợ một chồng .

Ở trong truyện tác giả không đề cao chữ “tiết hạnh khả phong “-cái cụm từ mà Tự Lực Văn Đoàn luôn đả phá,nhưng có vẻ như tác giả lại ca ngợi các việc thủ tiết của Mai,cho Mai như vậy là cao cả.Thật vô nghĩa cái việc Mai giữ “giá vẫn trong, gương vẫn sáng”-Để làm gì?Một người vợ ở tuổi như Mai mà không may chồng chết,thủ tiết với chồng,không tục huyền nữa thì nhà văn đã phá,nhưng Mai thủ tiết với một cái anh chàng vô tích sự,không bảo vệ, không làm gì cho người yêu trong lúc cuộc sống có những điều người đàn ông cần phải thể hiện,cần phải có để người đời có thể cho rằng tự do yêu đương là đúng,rằng không cần bố mẹ phải sắp đặt tình yêu cho con cái,rằng tự do yêu đương có thể giúp giới trẻ có đủ nghị lực vượt qua sóng gió của cuộc đời.Một cái anh chàng không đủ sáng suốt để nhận biết người yêu của mình có chung thủy với mình không,một anh chàng sẵn sàng vin vào sự biện hộ rằng người khác có lỗi để yên tâm nằm trọn lên bụng con gái con quan Tuần để sản sinh trong ba năm tới hai đứa con...mà Mai lại phải thủ tiết.”Thưa ông bây giờ thì có lẽ tôi không yêu chồng tôi,mà cũng không muốn trông thấy mặt nữa,nhưng tôi nói tôi trót yêu một người thì tôi cho rằng cái đời tôi như thế là hết dù tôi chỉ mới tới nửa chừng xuân”.Sao mà cô Mai lại có thể nghĩ dại dột như vậy?Ai bảo Lộc là chồng của Mai-chắc chỉ có Mai thôi.Một cô gái đã qua hơi đàn ông,đã biết mùi đời mà lại cam tâm kìm hãm cái sự sướng nghe nó trái với sự thực cuộc sống,bỡi thông thường theo như ca dao nói:”chồng chết chưa được một tang/Mép l...mấp máy như mang cá mè” cơ mà.Ông Khái Hưng muốn xây dựng Mai như một viên ngọc quý,yêu Lộc hết lòng,đoan chính hết mực...nhưng như vậy là ông xui dại phụ nữ.Mai có thể cứ ưng lấy, kết thân,hẹn hò với ông Doktor Minh,lên giường với Minh để hưởng hết cái hạnh phúc,lạc thú của sự đụng chạm nam nữ cho nó khỏi mất thăng bằng,cho nó cũng bình đẳng như khi Lộc thỏa mãn tình dục cùng vợ,nhưng trong tâm tư Mai thì Lộc lúc nào cũng được Mai nhớ,Mai chỉ thủ tiết với Lộc trong đầu có thể sẽ hay hơn,cho phụ nữ một hướng dễ chịu hơn.Nguyễn Du thông qua nhân vật Kim Trọng cũng đã cho rằng:”Xưa nay trong đạo đàn bà/Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường/Có khi biến,có khi thường/Có quyền nào chỉ một đừng chắp kinh/Như nàng lấy hiếu làm trinh...”Sự thủ tiết của Mai và sự dễ dãi đền ơn Lộc bằng cả cái trinh tiết của mình mâu thuẩn nhau.Một đường thì cấp tiến tự do yêu đương,một đường thì cổ hủ theo nho giáo.Đoạn đối đáp,đúng hơn là đoạn van xin của Mai:”Bẩm bà lớn, người vợ chưa cưới...” ta thấy Mai đã lý sự thấu tình đạt lý . Tuy nhiên đây vẫn là việc mà người ta cho rằng cô cứ tự do hành động , tự do yêu đương rồi chửa ... đưa người ta vào sự đã rồi , bắt người ta chấp nhận . Cô còn bảo cô không thể lấy lẽ , đó là vô nhân đạo , câu nói dù đúng nhưng như vậy là phê phán bà Án . Mai đúng khi nói với bà Án rằng Lộc đã đưa đến một người nói là mẹ mình và xin hỏi cô cho Lộc .Điều này sai là do phía con bà , gia đình bà phải có trách nhiệm trong cái việc lừa gạt người ta , tuy bà Án không biết , không nghe câu Mai nói với Lộc có đúng là mẹ anh hay không phải mẹ anh cũng không quan trọng cô chỉ biết cô yêu Lộc . Đáng lẽ tác giả nên để cho Mai còn nấn ná ở lại , kêu xin van nài thì tốt hơn . Việc Mai lùng đùng cương quyết ra đi ngay sau buổi gặp đầu tiên , ngay sau việc cầu khẩn van xin không thành khiến cho bà Án dù có về suy ngẫm lại cũng đành gác lại mà thực hiện công việc của mình , vì nhân gian có câu “ gái đĩ già mồm , kẻ trộm lắm gan “ , bà sẽ cho rằng Mai chỉ kêu thế thôi , bản chất của đứa gái hư là kêu xin ... chứ hoàn cảnh thực ra không phải thế . Cô ta lo liệu được . Cô ta đã chuẩn bị bước này rồi . Đứa nào hư hỏng mà chả kêu hòng gặp người non gan , dễ có lòng thương thì chộp , không thì cũng chẳng sao . Mai bỏ đi ngay làm bà Án có thể nghĩ đối với loại gái này phải cương quyết , phải “ già “ như vậy mới khỏi sa vào “ khổ nhục kế “ của nó . Mai đi và ta thấy bước đời tiếp theo của Mai cũng không đến nỗi lắm , chính điều này không góp phần tố cáo tính vô nhân đạo của bà Án và Lộc , đại diện cho chế độ đại gia đình .

Đoạn kết của “ Nửa chừng xuân “ có thể là một quan niệm khác về tình yêu của Khái Hưng . Câu “ Tình chỉ đẹp khi còn dang dở “ như được mượn ý để hai con người đã từng yêu nhau say đắm , đã từng đi tới cái tận cùng , cái “ vật chất “ của tình yêu giờ lại để lại nửa chừng để cho dư vị nó ngon mãi , để cho ký ức về nhau đậm một màu hồng tình ái khi mà những khúc mắc hiểu nhau đã được giải tỏa , những tình cảm dành cho nhau trong sáng trắng ngần được gột bỏ lớp bọc “ nông nổi “ hiểu nhầm hay bị lừa dối . Vàng mười đã đẹp , giờ lại lóng lánh đẹp hơn và gìn giữ trong lòng nhau , nâng niu trong lòng nhau cái còn lại đó . Ở phương trời kia , ở chốn thị thành kia có một người sống với gia đình cho trọng đạo làm con , tròn chữ hiếu , trọn đạo vợ chồng với một người phụ nữ con quan , nhưng tâm hồn chàng , trái tim chàng luôn gừi về một nơi có người phụ nữ buổi đầu đi vào lòng chàng , làm ngất ngây và đắm say chàng, không hề và không có lúc nào phản bội chàng cùng với kết quả của những ngày ân ái cũ là đứa con trai cũng sẽ mang họ chàng , làm cho mẹ chàng không héo hắt tuổi già như một món quà của lòng vị tha gởi tặng lòng sám hối để người sám hối nhận biết và nhân bản hơn trong đối nhân xử thế ở đời . Mai không về bên Lộc sẽ giữ được sự trân trọng nể vì không chỉ của bà Án mà còn cả của người vợ Lộc . Đây mới là sự hy sinh của Mai , sự hy sinh tự nguyện không bị ép buộc mà không vì một đòi hỏi gì , sự hy sinh chỉ để cho đời thêm ý nghĩa nhân văn và trật tự không bị đảo lộn , sự hy sinh để giữ trọn tình yêu cho một người để người đó có tình yêu mà tôn thờ , mà làm động lực cho các hoạt động trong cuộc sống . Đó chính là thứ tình yêu – yêu trong linh hồn , yêu trong lý tưởng - . Từ đây đành “ nửa chừng xuân “ – Lộc có tình yêu của Mai nhưng không được mang tình yêu ấy ra dùng . Vì nếu dùng , nếu vật chất hóa tình yêu này bằng tình dục như ngày xưa ... nó sẽ làm một người đau khổ - vợ Lộc – và làm cho một người như cảm thấy có tội lỗi vì mình phá hạnh phúc của người ta đó là Mai , một người có thể sẽ không thấm thía về tội lỗi của mình , có thể cũng sẽ dần dà xem thường Mai – đó là bà Án .

Và ở một làng ven đồi nọ có một người phụ nữ thanh thản với một gia đình có em , đứa em mà người chị cũng đã theo lời dạy của cha nuôi cho ăn học thành tài , có con , kết quả của tình yêu đầu mùa không gò ép và hơn thế nữa không hề bị cô đơn vì trong cuộc đời hình bóng người xưa lại trở về đẹp đẽ .Nàng cũng có tình yêu của Lộc.Nàng không phải vợ Lộc nhưng cũng không muốn mang tình yêu của mình ra chung đụng với ai bỡi như vậy người nàng yêu sẽ không còn cái để tôn thờ.Hai cái tình yêu của hai người đành giữ lại ở trong lòng,mặc có lúc nó cồn cào,có lúc nó khát khao được làm” đã đời” nhau được làm hả cơn khát cháy bỏng của nhau...mà đành phải kìm nén để” tu hành”cho trọn kiếp, cho đắc đạo,cái đạo của thời không được tự do hôn nhân.

                                                                         Đ.H.T


Last edited by LDN on Sat Jun 25, 2022 3:28 pm; edited 4 times in total

_________________
I stand with Ukraine

Cầu nguyện cho Ukraine
LDN

LDN


Back to top Go down

Thumb up Re: Sách

Post by LDN Yesterday at 7:20 am


Bác sĩ Lê Trung Ngân

Tình yêu cá nhân trong hai tiểu thuyết Nửa Chừng Xuân và Đoạn Tuyệt của Tự Lực Văn Đoàn.

***
Tình yêu là một loại tình cảm rất đặc biệt và khá phức tạp của cuộc sống con người. Nó luôn là đề tài hấp dẫn thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều nhà văn nhà thơ. Tuy nhiên, khuôn mặt của tình yêu tùy vào quan điểm thẩm mĩ, văn hóa, xã hội của từng thời kì, của từng tác giả mà hiện ra cũng rất khác nhau.

Với Tự Lực Văn Đoàn, họ đã đặt ra một vấn đề rất mới mẻ trong tình yêu nam nữ, đó là vấn đề đấu tranh cho luyến ái và hôn nhân tự do, họ có thể hi sinh hạnh phúc cá nhân chỉ cần người mình yêu được hạnh phúc vui vẻ.

Đến với tiểu thuyết Nửa Chừng Xuân, ta thấy được cái mãnh liệt của tình yêu, những cơn đau quặn lòng khi trắc trở và cả cái ấm áp ngọt ngào khi sống trong một tình yêu cao thượng.

Mai và Lộc đã yêu nhau, yêu say đắm và không hề nghĩ ngợi. Thế nhưng, bà Án – đại diện cho nền tư tưởng cũ – đã ra sức ngăn cấm tình yêu đó. Quá yêu Mai, Lộc đã bất chấp sự cấm đoán của mẹ và vụng trộm cưới Mai. Đó là một hành động rất liều lĩnh, Lộc đã dám cãi lại mẹ, cãi lại cái nền tư tưởng cũ mà sống vì tình yêu, sống để mưu cầu hạnh phúc cho riêng mình.

Thế nhưng, đó cũng chỉ là hành động “lén lút” chống lại nền tư tưởng cũ, Lộc vẫn chưa đủ can đảm để bảo vệ tình yêu của mình trước xã hội luôn muốn bóp chết mọi quyền tự do, luôn muốn kìm hãm con người phát triển. Rồi bà Án đã khôn khéo trói Mai vào sự hi sinh cho Lộc, buộc Mai phải xa người mình yêu. Sau đó, Mai bươn chải mưu sinh và từ chối hai mối tình, một của bác sĩ và một của họa sĩ. Sao đang lúc khó khăn, không có ai nương tựa mà Mai lại từ chối hai cuộc tình như thế? Lộc, chính vì Lộc. Tuy xa nhau nhưng lúc nào Mai cũng nghĩ về Lộc, nghĩ về mối tình ngày xưa của mình, nghĩ về một tình yêu lí tưởng. Chính Mai cũng đã từng nói với bà Án: “con yêu ai thì con chỉ muốn người ấy là người yêu hoàn toàn mà thôi”.

Còn Lộc, Lộc lúc nào cũng nhớ về Mai và càng thương Mai hơn khi biết được sự hi sinh của Mai trong những năm tháng đã qua. Hai người yêu thương nhau, đã sống với nhau những ngày hạnh phúc nhưng giông bão cuộc đời đã nổi lên làm Mai và Lộc phải xa cách. Thế nhưng, tình yêu đó vẫn không hề ngụi lạnh, nó vẫn ấm áp, cháy rạo rực trong lòng mỗi người và càng ngày càng thêm thắm đượm. Mai đã nói với Lộc: “em ở xa anh, nhưng tâm trí hai ta lúc nào cũng yêu nhau thì trọn đời hai ta lúc nào cũng gần nhau”. Đó đúng là một suy nghĩ mới mẻ minh chứng cho một tình yêu cao thượng, vượt khỏi ái tình tầm thường đề yêu nhau trong tinh thần cao cả. Đó là một tình yêu có hi sinh nhưng không hề tiếc nuối, hi sinh để có một tình yêu lí tưởng. Dù xã hội có cấm đoán tình yêu tự do, cấm đoán việc tự do hôn nhân thì họ yêu nhau trong tư tưởng, trong tinh thần thì làm sao có thế lực nào cấm đoán được? Đó chính là một cách đấu tranh cho tình yêu tự do mà tiểu thuyết Đoạn Tuyệt cũng đã đề cập đến.

Đã hơn tám năm, Dũng luôn mang trong tim hình bóng Loan mà không hề thổ lộ. Vì nghĩ đến hạnh phúc của Loan , Dũng đã chuyển từ tình yêu sang tình bạn để Loan khỏi bận lòng. Dũng đã tự nhủ: “yêu Loan mà không lấy được Loan thì thà rằng xa hẳn Loan ra, vì xa tức là gần Loan mãi mãi, yêu Loan hơn và yêu không bao giờ hết”. Qua lời nhắn nhủ đó, ta thấy được cái cao cả trong tâm hồn của Dũng, Dũng có thể hi sinh tình yêu của mình chỉ để người mình yêu được hạnh phúc là đủ.

Thế nhưng, chính Loan mới là người đau khổ nhất, Loan cũng yêu Dũng nhưng không dám nói trực tiếp rồi vì chữ hiếu Loan phải lấy chồng, lấy một người không thương yêu, không tình cảm và chính cuộc hôn nhân đó đã làm cho cuộc đời Loan thay đổi, thay đổi một cách đầy đau xót. Loan vốn là một người có học, thông minh, giàu nghị lực và có nhiều cách nghĩ mới về cuộc sống, Loan muốn được tự do trong mọi chuyện nhưng vì chữ hiếu Loan đã hi sinh hạnh phúc cá nhân, hi sinh cả tình yêu đầu đời chưa kịp ngỏ. Tưởng thế là mối tình đầu đã chấm dứt, nhưng không, Loan vẫn yêu và càng ngày tình yêu đó càng mãnh liệt, nặng sâu hơn. Có lần Loan đã tâm sự với Thảo: “vì Thân nào có phải là chồng em, đối với mọi người em là vợ Thân… Nhưng đối riêng với em, với chị, thì trước sau em chỉ là vợ Dũng, người vợ trong tinh thần của Dũng”. Phải, tuy nghe lời cha mẹ về làm vợ Thân nhưng Loan không hề có tình cảm với Thân và càng ngày như càng xa cách. Lúc nào Loan cũng nghĩ về Dũng, về những hành động, cử chỉ của Dũng và những tháng ngày hai đứa còn gần gũi bên nhau – dù chỉ xem nhau như là đôi bạn.

Xã hội khắc khe đã làm Loan gặp nhiều đau khổ, dù bề ngoài Loan có vẻ phục tùng cái xã hội ấy, nhưng trong tâm trí Loan đã có sự giằng xé muốn thoát li khỏi nó, thoát khỏi sự tù túng hướng đến chân trời tự do bao la tươi đẹp. Chính cái chết không ngờ của Thân là cơ hội cho Loan nói lời “Đoạn Tuyệt” với cái xã hội cũ, cái xã hội đã kìm hãm Loan trong suốt mấy năm dài. Còn Dũng, Dũng lúc nào cũng nghĩ đến Loan, dõi theo bước chân Loan trên mọi nẻo đường, lo lắng tột cùng khi Loan gặp chuyện, hạnh phúc vỡ hòa khi mọi chuyện bình an. Sau bao cách trở, cuối cùng Dũng đã tỏ rõ tấm lòng mình qua một bức thư gửi cho người chị mà qua bức thư đó Loan cảm nhận được sự chân thành từ Dũng, Loan ngất ngây trong hạnh phúc và sung sướng khi tình yêu thuở ban đầu vẫn đang rực cháy.

Tóm lại, vấn đề tình yêu nam nữ trong Tự Lực Văn Đoàn là một vấn đề khá mới mẻ, họ muốn vươn đến một tình yêu tự do và cao cả, sẵn sàng hi sinh hạnh phúc của mình để cho người yêu được hạnh phúc. Dù tình yêu đó có bị ngăn cấm, không đến được với nhau nhưng nếu là một tình yêu thật sự thì nó mãi là tình yêu.

_________________
I stand with Ukraine

Cầu nguyện cho Ukraine
LDN

LDN


Back to top Go down

Thumb up Re: Sách

Post by Sponsored content



Sponsored content


Back to top Go down

Page 7 of 7 Previous  1, 2, 3, 4, 5, 6, 7

View previous topic View next topic Back to top

- Similar topics

Permissions in this forum:
You cannot reply to topics in this forum