Our forum runs best with JavaScript enabled !

Sách

Page 39 of 39 Previous  1 ... 21 ... 37, 38, 39

View previous topic View next topic Go down

Thumb up Re: Sách

Post by LDN Tue Jan 24, 2023 5:29 am

Lời bình, chú thích của tôi 😄 Rufus Griswold là kẻ thù, người ghét ông Poe, làm nghề xuất bản sách.

DIỄN ĐÀN VĂN HỌC TRẺ

Phong Cầm

Chia Sẻ 13 sự thật về Edgar Allan Poe kỳ lạ

Sau cái chết bí ẩn của bậc thầy của truyện bí ẩn và rùng rợn của nước Mỹ, đối thủ văn học của Edgar Allan Poe đã viết một cáo phó và tiểu sử cay độc của tác giả. Tuy nhiên, phần lớn những gì được viết bởi kẻ thù của Poe, Rufus Griswold, là không đúng sự thật. Báo thù vì những điều Poe đã viết về Griswold, bức chân dung sau khi chết của Poe đã miêu tả ông như một kẻ điên cuồng lăng nhăng, nghiện ma túy và không có đạo đức lẫn bạn bè.

Mặc dù khác xa sự thật, có nhiều điểm xuyên tạc của Griswold nhưng đó là cuốn tiểu sử duy nhất của Poe vào thời điểm đó - và là cuốn được đọc nhiều - kết hợp với giọng văn trong một số tác phẩm của Poe, nó có sức thuyết phục đối với công chúng muốn tin vào tai tiếng, mặt xấu xa của nhà văn. Mặc dù những bức thư có mục đích từ Poe gửi cho Griswold chứng minh những vu khống đó là giả mạo - và những người bạn của Poe đã kịch liệt phủ nhận – thì cho đến ngày nay, hình ảnh Poe như một con chim kỳ quặc cuồng nộ vẫn tồn tại.

Một thế kỷ rưỡi sau, có lẽ điều kỳ lạ nhất về Edgar Allan Poe là nhìn chung ông không kỳ quặc chút nào. Poe không ẩn nấp trong những nghĩa trang và vuốt ve những chiếc quan tài, mà thực tế là một nhà tiên phong chăm chỉ và xuất sắc, người đã thay đổi bộ mặt của nền văn học Mỹ. Với suy nghĩ đó, đây là một số điều kỳ lạ hơn bình thường cần biết về một trong những tác giả sáng tạo nhất của Hoa Kỳ.

1. Ông là một người đi tiên phong trong văn học​
Poe được nhớ đến nhiều nhất với những câu chuyện kinh dị và những bài thơ ám ảnh (nổi tiếng nhất như 'The Raven,' 'The Black Cat' và 'The Tell-Tale Heart'…), ông cũng được coi là một trong những nhà văn viết truyện ngắn sớm nhất. Poe được coi là ông tổ của thể loại truyện trinh thám và hình sự, ông có sự ảnh hưởng đến Charles Baudelaire, Fyodor Dostoevsky, Sir Arthur Conan Doyle. ..

2. Ông viết sung sức​
Tác phẩm của ông bao gồm truyện ngắn, thơ, tiểu thuyết, sách giáo khoa, sách lý thuyết khoa học, và nhiều bài tiểu luận và phê bình sách.

3. Ông ấy đã tạo ra một nghề mới​
Poe được coi là nhà văn chuyên nghiệp nổi tiếng đầu tiên của Mỹ (và do đó, nghệ sĩ chết đói); ông sống lại với tư cách là nhà lý luận và nhà phê bình văn học vĩ đại đầu tiên của đất nước.

Edgar Allan Poe.jpg
(13 sự thật về Edgar Allan Poe kỳ lạ - Ảnh chân dung của Poe)

4. Tên của ông có thể được đặt theo tên một nhân vật trong vở kịch của Shakespeare​
Ông sinh ra là Edgar Poe ở Boston năm 1809; cha mẹ anh đều là diễn viên. Cha mẹ của ông đã biểu diễn trong vở kịch King Lear của Shakespeare vào năm anh sinh ra, dẫn đến suy đoán rằng anh được đặt tên theo con trai của Bá tước Gloucester trong vở kịch, Edgar.

5. Thơ và di truyền trong gia đình Poe​
Poe là con giữa trong gia đình có ba anh em. Anh trai của ông, William Henry Leonard Poe, cũng là một nhà thơ, em gái của ông - Rosalie Poe là một giáo viên dạy bút pháp thơ.

6. Ông ấy là một đứa trẻ mồ côi​
Khi Edgar chưa đầy 4 tuổi, cha mẹ qua đời và ông được một thương gia giàu có tên là John Allan và vợ, Francis nhận nuôi. Họ sống ở Richmond, Virginia, và đặt tên cho cậu bé là Edgar Allan Poe.

7. Ông ấy đã mô phỏng Lord Byron​
Cha nuôi của Poe đã chuẩn bị cho anh đi kinh doanh và trở thành một quý ông Virginia, nhưng Poe lại mơ ước trở thành một nhà văn như thần tượng thời niên thiếu của anh, nhà thơ người Anh Lord Byron (phải). Đến năm 13 tuổi, Poe đã viết một tập thơ, mặc dù hiệu trưởng của ông đã thuyết phục cha của Poe không cho phép xuất bản cuốn sách.

8. Nghèo đói là nàng thơ của ngài​

Poe bắt đầu sự nghiệp đại học, nhưng với sự hỗ trợ tài chính ít ỏi từ Allan keo kiệt, Poe dấn thân vào một cuộc hành trình dài của nghèo khổ và nợ nần. Vấn đề tiền bạc ám ảnh ông và những căng thẳng với cha nuôi đã thúc đẩy ông quyết tâm trở thành một nhà văn thành công.

9. Ông ấy là một thần đồng​
Ông đã xuất bản cuốn sách đầu tiên của mình, "Tamerlane," khi mới 18 tuổi.

10. Ông ấy đã bị truất quyền thừa kế​
Khi Allan chết, Poe đang sống trong cảnh nghèo khó, ông không nhận được thừa kế vì làm trái ý muốn trong di chúc, ông không muốn phải nuôi một đứa con ngoài giá thú mà Allan thậm chí chưa từng gặp mặt.

11. Ông ấy kết hôn với em họ tuổi teen của mình​
Poe kết hôn với người em họ của mình, Virginia Clemm khi cô ấy 13 tuổi và anh ấy 27 tuổi (Chuyện này có lẽ điều đó hơi kỳ quặc theo tiêu chuẩn ngày nay.) Cô ấy qua đời ở tuổi 24 vì bệnh lao. Người phụ nữ yêu dấu đã rời bỏ Edgar mà đi. Một lần nữa, Edgar lại chìm trong đau đớn. Điều này có thể đã để lại những vết thương tâm lý và tình cảm sâu sắc nơi ông, lý giải tại sao ông thường bị ám ảnh và nói nhiều về cái chết.

12. Poe đã tạo ra cơn hận thù của Griswold​
Poe giành được vị trí biên tập tại tạp chí Sứ giả văn học miền Nam, nơi ông trở nên nổi tiếng với những bài phê bình sách và phê bình gay gắt (chính là nơi sinh ra cơn giận của Griswold). Ông tiếp tục viết cho nhiều tạp chí. Việc xuất bản "The Raven" năm 1845 đã khiến ông trở thành một cái tên quen thuộc và cuối cùng đã đảm bảo cho ông thành công mà ông đang tìm kiếm.

13. Cái chết của ông ấy cũng bí ẩn như tác phẩm mà ông tạo ra​
Năm 1849, Poe mất tích trong 5 ngày và được phát hiện "mặc quần áo xấu hơn" và mê sảng ở Baltimore. Ông được đưa đến bệnh viện và qua đời ngay sau đó ở tuổi 40. Không có khám nghiệm tử thi được thực hiện, nguyên nhân cái chết được nêu ra mơ hồ là "tắc nghẽn não" và ông được chôn cất sau đó hai ngày. Kì lạ nhất là Poe đã có một số báo trước về cái chết khi anh rời Richmond đến Baltimore vào cuối tháng Chín. Các chuyên gia và học giả đã đề xuất mọi thứ, từ giết người và bệnh dại đến chứng rối loạn tâm thần và ngộ độc khí carbon monoxide làm lý do cho cái chết của ông, nhưng cho đến nay nguyên nhân cái chết của Edgar Allan Poe vẫn là một bí ẩn.

***​

[Thông tin thêm: Tác phẩm của Edgar Allan Poe được dịch ra tất cả các ngôn ngữ chủ yếu của thế giới. Những bản dịch của Charles Baudelaire, Stéphane Mallarmé ra tiếng Pháp tác phẩm của Poe trở thành những bản dịch nổi tiếng thế giới, có ảnh hưởng đến nhiều nhà văn, nhà thơ lớn khắp thế giới. Tác phẩm của Edgar Allan Poe đã được dịch rải rác sang tiếng Việt từ lâu. "Tuyển tập Edgar Allan Poe", dày 716 trang bao gồm phần lớn truyện ngắn của ông, do Ngô Tự Lập và nhóm Địa Cầu Văn Hoá dịch được nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, xuất bản năm 2002.

Lịch sử về Edgar Allan Poe đã xuất hiện như một nhân vật hư cấu, thường đại diện cho "thiên tài điên loạn" hoặc "nghệ sĩ bị dày vò" và khai thác những cuộc đấu tranh cá nhân của bản thân. Nhiều mô tả như vậy cũng phù hợp với các nhân vật trong các câu chuyện của Poe, cho thấy ông và các nhân vật tạo ra có chung danh tính. Thông thường, các mô tả hư cấu về Poe sử dụng các kỹ năng giải quyết bí ẩn của ông trong các tiểu thuyết như The Poe Shadow của Matthew Pearl..

Thế giới tâm thần hoảng loạn là một thế giới đặc trưng trong rất nhiều những truyện ngắn của Poe.

Ông đã phản ánh được trong tác phẩm của mình trạng thái tâm lý nhiễu loạn của nhân vật. Nỗi lo âu tiềm ẩn và đời sống tinh thần bất an, từ đó thể hiện mặt trái của giấc mơ Mỹ, giấc mơ của những cá nhân đầy tự lập và thành đạt. Và ông đã đưa ra cái bản chất thực sự của chủ nghĩa vật chất: ấy là sự cô đơn, bất ổn và cảm giác chết chóc luôn lơ lửng trong đời sống nội tâm của những thành viên trong xã hội.

Những tác phẩm kỳ dị của Poe nẩy nở từ dự cảm về vực thẳm ẩn sâu của đời sống hiện đại. Nó là một cơn ác mộng kéo dài, kinh hoàng. Nó in đậm trong những truyện ngắn vừa mang tính kinh dị, vừa đầy sự rối loại, bí ẩn, nặng nề của Poe, mà Con mèo đen chính là một điển hình.


Last edited by LDN on Thu Jan 26, 2023 7:28 am; edited 1 time in total

_________________
Cầu cho Ukraine sớm có Hoà Bình.
LDN

LDN


Back to top Go down

Thumb up Re: Sách

Post by LDN Tue Jan 24, 2023 5:35 am

review sách

Truyện ngắn Con Mèo Đen – Egar Allan Poe

The Black Cat (Con mèo đen) – truyện ngắn nổi tiếng của nhà văn Mỹ Edgar Allan Poe – một tác phẩm kinh dị đáng suy ngẫm, vượt thoát ranh giới một truyện ngắn thông thường bởi nó đem lại cho người đọc những câu hỏi nan giải về bản ngã con người chân chính là Thiện hay là Ác, là Tốt hay là Xấu.
The Black Cat (Con mèo đen) được sáng tác năm 1843. Tác phẩm là lời thú tội của nhân vật xưng Tôi. Tôi muốn kể lại câu chuyện của cuộc đời mình xoay quanh “con mèo đen”. Thuở nhỏ, anh ta vốn là cậu bé nhút nhát, nhân hậu, yêu thú vật. Khi lớn lên, anh ta uống rượu rồi dần dần trở nên hung bạo hành hạ thú vật và đánh đập vợ.

Review truyện ngắn con mèo đen Egar Allan Poe
Tôi khoét mắt, treo cổ con mèo đen tên Pluto vốn là vật nuôi trước đây anh ta rất yêu quý. Hỏa hoạn xảy ra, trên bức tường cháy loang lỗ hiện ra gương mặt con mèo khổng lồ và nút dây thắt cổ. Tôi hối hận và tìm kiếm con mèo trong các quán rượu.

Một hôm, anh ta tìm được một con mèo đen giống hệt Pluto, cũng bị khoét mắt nhưng nó có một đốm trắng ở cổ. Anh ta đem con mèo về nuôi và hứa sẽ yêu quý nó. Nhưng khi say rượu, anh ta lại chán ghét con mèo.

Một hôm khac, trên đường xuống hầm, bị con mèo quấn chân, anh ta định giết con mèo nhưng bị người vợ cản lại, nhân vật Tôi đã giết vợ và chôn xác sau bức tường trong hầm. Bốn ngày sau, cảnh sát đến điều tra. Anh ta vô cùng tự tin dẫn cảnh sát xuống hầm và gõ vào bức tường mới xây để chứng minh sự vô tội, thì có tiếng mèo kêu. Thì ra, lúc chôn xác vợ, anh ta đã chôn luôn con mèo vào đó.

Trong truyện ngắn Con mèo đen ngoài nhân vật xưng Tôi, con mèo đen là nhân vật chính thứ hai. Con mèo đen đầu tiên có tên là Pluto được miêu tả như sau:“Con mèo này là một con vật rất to và đẹp, đen tuyền, và khôn đến mức độ đáng kinh ngạc” và “Pluto – tên con mèo – là con vật tôi quý nhất, là người bạn của tôi”. Truy ngược về quá khứ thì việc xem mèo đen là phù thủy xuất hiện rất nhiều trong các truyện thần thoại, cổ tích và trong quan niệm của người phương Tây. Dơi, quạ, mèo đen và số 13 là biểu tượng của sự không may mắn, điềm rủi.

Từ những huyền thoại trên, đã làm hình ảnh con mèo đen mang một giá trị biểu tượng tự thân – biểu tượng cho điềm xấu, không may mắn.

Tác giả sách Egar Allan Poe
Trong truyện, con mèo của Tôi được đặt tên là Pluto, truy về nguồn gốc đó chính là tên của vị thần Hades cai quản thế giới Âm phủ trong Thần thoại Hy Lạp. Như vậy, có thể thấy được tính biểu trưng cho Cái Chết và những điều xui xẻo trong hình ảnh con mèo Pluto. Tác giả đã dùng những quan niệm mặc định trong tâm thức người đọc để phủ một lớp huyền thoại ma quái và chết chóc lên con mèo Pluto ngay từ đầu truyện.

Nếu bóc tách từng lớp vỏ tác phẩm thì ở vẻ bên ngoài, tác giả đã dùng huyền thoại như một công cụ biện hộ cho Tôi hay nói chính xác hơn là Tôi dùng con mèo đen để biện hộ cho tội ác của mình. Anh ta cứ nói nhiều đến sự vô tội, ngây thơ của con mèo nhưng đồng thời tạo ra những chi tiết hướng người đọc vào sự tối tăm, huyền bí của con mèo Pluto (nhắc đến phù thủy, nhắc đến sự thay đổi bất thường xúc bản thân dù không muốn điều đó, hình ảnh đầu mèo trên tường, sự xuất hiện của Pluto thứ hai, vô ý giết vợ, con mèo kêu lên làm cảnh sát phát hiện ra tội ác anh ta…). Hình tượng Con mèo đen ở lớp ý nghĩa thứ nhất tượng trưng cho nỗi sợ hãi của con người trước những điều không thể giải thích bằng khoa học. Nỗi sợ có từ quan niệm thời cổ xưa về tà thuật, phù thủy, ma quỷ. Con mèo đen đem đến cái Xấu, cái Ác khiến nhân vật Tôi từ người hiền lành lương thiện trở thành tên giết người.

Con mèo đen review
Ở lớp nghĩa thứ hai, biểu tượng con mèo đen chỉ mang tính chất lừa mị. Lừa dối bản thân và mị hoặc mọi người. Toàn bộ câu truyện là lời nói của một tên giết người đã bị kết án, theo đúng logic tâm lý, anh ta mong muốn được thoát tội. Nếu nhìn theo góc độ này thì ta có thể đặt ra nghi vấn: thật sự có con mèo Pluto tồn tại? hay chỉ là cái cớ nhân vật Tôi gợi lòng thương cảm và sự đồng tình của mọi người. Hay ta có quyền nghi vấn toàn bộ câu chuyện chỉ là sự phân thân của một người bệnh thần kinh. Anh ta tự tách bản thân ra hai phần phần Thiện và phần Ác, phần Người và phần Thú (con mèo đen).

Con mèo đen trong huyền thoại vừa có tích tiêu cực nhưng cũng có mặt tích cực, vừa đại diện cho bóng tối, cái chết vừa đại diện cho sự tinh khôn, mưu mẹo. Từ huyền thoại bước vào tác phẩm của Poe, con mèo đen trở thành biểu tượng cho những giằng xé thiện ác, tỉnh mê trong mỗi con người. Con mèo đen vừa là mê tín nhưng có thật là mê tín không? Hay là mượn mê tín để phủ lấp lên sự thật nhằm che đậy sự xấu xa, đen tối. Tôi là người khôn ngoan tỉnh táo biết cách lấm liếm sự thật hay là kẻ nhu nhược, sợ hãi, loạn trí. Chính vì vậy mà biểu tượng con mèo đen trong tác phẩm có thể hiểu như biểu tượng cho sự đa đoan, đa dạng, đa diện của đời sống nội tâm con người.

Truyện ngắn Con mèo đen nhìn theo khía cạnh này bỗng trở thành ẩn dụ lớn về con người và cái cách con người chọn để sống ở cuộc đời này. Trong suốt cuộc đời, con người đứng trước rất nhiều ngã rẽ nhưng chỉ được chọn một. Cũng giống như Tôi, có rất nhiều cách đương đầu với cuộc đời nhưng anh ta đã chọn cách tiêu cực nhất. Những đối cực trong người nhân vật xưng Tôi là những mâu thuẫn có trong mỗi con người, nhưng cái khác là cách hành xử. Con người phải luôn luôn tranh đấu để phần Tốt tồn tại và phần Xấu ẩn đi, để ánh sáng lấn áp bóng tối và cái Thiện chiến thắng.

Chủ đề con người và tội lỗi, tội ác và sự trừng phạt trong các quan niệm truyền thống chỉ mang tính giáo huấn. Còn trong Con mèo đen đó là sự phức tạp, rối ren trong tâm lý con người. Không có ai là toàn thiện, không có gì là toàn mỹ. Tội lỗi và trong sạch chỉ cách nhau một khoảng cách mơ hồ. E.A.Poe đã đem bài học luân lý không dễ tiếp thu ấy vào một câu chuyện kinh dị và kỳ ảo.

Lương Thị Hoài Tâm

Linh Naby - tác giả tại Reviewsach.net

Linh là một biên tập viên khó tính, hay gắt gỏng và cực kỳ nghiêm khắc với những ai hay mắc lỗi chính tả.

Cá tính nhưng không hòa đồng, đẹp gái nhưng dễ gây mất lòng

_________________
Cầu cho Ukraine sớm có Hoà Bình.
LDN

LDN


Back to top Go down

Thumb up Re: Sách

Post by LDN Tue Jan 24, 2023 5:39 am

Tại sao bạn nên đọc Edgar Allan Poe?

Jayson Vo - spiderum

All we see or seem is but a dream within a dream
Một vầng trán rộng bị tóc đen xoăn rối che phủ, một làn da xanh xao bệnh hoạn, một cái nhìn của trí tuệ sâu sắc và vẻ kiệt sức còn sâu sắc hơn trong đôi mắt tối tăm, hõm sâu của ông.  Hình tượng Edgar Allan Poe không những dễ nhận ra mà còn hoàn toàn phù hợp với tiếng tăm của ông.  Từ một tù nhân bị trói dưới lưỡi dao lắc đang dần hạ xuống cho tới một con quạ không chịu rời phòng của người kể chuyện, những câu chuyện sáng tạo đầy rùng tợn mang phong cách Gô-tích của Poe đã để lại dấu ấn khó phai trong lịch sử văn chương. Nhưng điều gì đã đưa Edgar Allan Poe trở thành một trong những nhà văn Mỹ vĩ đại nhất ?

Ở thời ông, thể loại kinh dị khá phổ biến với nhiều tác giả, nhưng Poe vẫn nổi bật nhờ sự tỉ mỉ trong thể loại và phong cách. Trong vai trò nhà phê bình văn học, ông đã xác định hai quy tắc cốt yếu cho thể loại truyện ngắn:

1. Truyện phải đủ ngắn để có thể đọc hết trong một lượt.
2. Mỗi từ mỗi chữ đều phải có mục đích.

Áp dụng thuần thục hai quy tắc này, Poe đã thu hút sự chú ý của độc giả và đem lại cho họ trải nghiêm căng thẳng và rất riêng mà ông gọi là sự kết hợp các hiệu ứng ( unity of effect).

Vượt qua cả nỗi sợ đơn thuần, truyện ngắn của Poe gồm yếu tố bạo lực, rùng rợn để khám phá nghịch lý và bí ẩn của tình yêu, nỗi đau, và tội lỗi, với các thông điệp đạo đức được diễn giải mập mờ và phức tạp. Dù các tác phẩm của Poe thường hàm ẩn yếu tố siêu nhiên, mảng tối thực sự mà chúng hướng tới chính là tâm trí con người và khuynh hướng tự diệt của nó. Trong truyện ngắn " The Tell-Tale Heart", một vụ giết người tàn nhẫn được đặt tương phản cạnh sự cảm thông của kẻ thủ ác với nạn nhân tạo nên mối liên kết để rồi mối liên kết sẽ  quay về ám ảnh hắn. Nhân vật Ligeia trong truyện ngắn cùng tên từ cõi chết trở về qua xác chết của người vợ thứ của chồng cô hoặc ít nhất là người kể chuyện nghiện ngập nghĩ vậy.  Và khi nhân vật chính của "William Wilson" dằn mặt kẻ mà anh ta cho là đã bám đuôi mình có lẽ chỉ đang đối mặt với hình ảnh của chính mình trong gương.

Tiên phong trong việc sử dụng những người dẫn chuyện không đáng tin, Poe buộc độc giả phải tham gia chủ động và tự mình quyết định xem người kể chuyện có đang hiểu sai hay thậm chí là nói dối về những chuyện họ kể. Tuy được biết đến nhiều nhất nhờ các truyện ngắn kinh dị, Poe thực ra lại là một trong những tắc giả đa tài và chịu khó thử nghiệm nhất thế kỷ XIX. Ông sáng tạo ra thể loại truyện trinh thám ta đọc hàng ngày nay với "Án mạng phố Rue Morgue", tiếp đó là "Bí ẩn Marie Roget"  và "Lá thư bị đánh cắp". Cả ba truyện ngắn này đều xuất hiện nhân vật thám tử ghế bành C.Auguste Dupin, dùng năng lực quan sát, suy luận thiên tài và khác người để phá cá vụ án làm đau đầu giới cảnh sát.

Poe cũng viết tác phẩm châm biếm xã hội và các trào lưu văn học, cũng như một số tin vịt định hướng khoa học viễn tưởng sau này. Các tin vịt gồm chuyến bay khinh khí cầu tới mặt trăng và báo cáo về một nhân hấp hối bị đưa vào trạng thôi miên để có thể nói chuyện từ thế giới bên kia. Poe thậm chí còn viết tiểu thuyết phiêu lưu về chuyến đi Nam Cực và viết lý luận về vật lý thiên văn khi còn đang làm biên tập và xuất bản hàng trăm trang phê bình sách và lý thuyết văn học. Sẽ thật thiếu sót nếu đánh giá sự nghiệp văn chương của ông mà không có những áng thơ đầy mê hoặc và ám ảnh. Nổi tiếng nhất là khúc ca viết về nỗi đau, hay như Poet viết: "Nỗi nhớ thống khổ và khôn nguôi" ( mournful and never-ending remembrance). Bài "Con quạ", với người kể chuyện trút nỗi đau vào con quạ- con vật chỉ lặp lại một âm thanh duy nhất (Nevermore) đã giúp Poe nổi danh.

Dù thành công trong sự nghiệp văn chương, Poe vẫn sống trong nghèo khổ suốt những năm làm việc và cuộc sống tăm tối như chính. Cái chết ở tuổi 24 của cả mẹ và vợ do bệnh lao đã ám ảnh Poe cả đời. Ông đánh vật với chứng nghiện rượu và thường đối đầu với các nhà văn nổi tiếng khác. Phần nhiều danh tiếng của ông tới từ các tác phẩm chuyển thể rất khác với nguyên gốc sau khi ông qua đời. Nếu có thể biết được các tác phẩm của mình đã đem lại bao niềm vui và cảm hứng cho nhiều thế hệ độc giả và tác giả, có lẽ nụ cười đã nở trên khuôn mặt ưu sầu nổi tiếng ấy.
_______________________________________
Source: Ted Ed Why should you read Edgar Allan Poe?- Scott Peeples


Last edited by LDN on Wed Jan 25, 2023 2:48 pm; edited 2 times in total

_________________
Cầu cho Ukraine sớm có Hoà Bình.
LDN

LDN


Back to top Go down

Thumb up Re: Sách

Post by LDN Tue Jan 24, 2023 5:45 am

TRANG TRINH THÁM - by PHAN BA

Mặt nạ tử thần đỏ - EDGAR ALLAN POE
The Mask of the Red Death

Lê Bá Kông dịch

“Tử Thần Đỏ” đã hoành hành tại miền này từ lâu.

Từ trước đến giờ chưa có bệnh nào nguy hại hay trông kinh khủng như vậy. Máu là dấu hiệu của chứng bệnh đó – cái màu đỏ của máu. Con bệnh đau một cách dữ dội và bỗng nhiên có cảm giác như trí não đang quay cuồng trong đầu, rồi máu rỉ ra trên da, dù da không đứt, không nứt, và toàn thân đột nhiên suy bại. Những vết chấm đỏ trên người và nhất là trên mặt bệnh nhân vĩnh viễn tách hẳn y với đồng bào của y. Và cơn bệnh từ đầu chí cuối không lâu quá nửa giờ đồng hồ.

Nhưng Nam tước Baron Prospero vẫn sung sướng, khoẻ mạnh và khôn ngoan. Khi một nửa dân số trên mảnh đất của ông đã chết. Ông liền tụ tập một ngàn người bạn thân, khỏe mạnh và vui tính, rồi cùng họ rời đi thật xa, tới một trong số những dinh thự của ông. Đó là một dinh thự to lớn và đẹp do chính ông vẽ kiểu. Quanh dinh thự ấy có một bức tường cao và chắc chắn bao bọc. Tường ấy lại có cửa bằng sắt. Khi đã vào trong dinh rồi, mọi người liền lấy lửa nung đỏ sắt cửa và gắn liền chúng lại để chẳng có khóa nào có thể mở được nữa.

Họ muốn từ đấy chẳng còn ai có thể ra hay vào nơi đó được. Trong dinh thự, có đủ lương thực. Họ có thể quên chứng bệnh kia ở đây. Họ phó mặc cho thế giới bên ngoài tự lo lấy thân. Họ đâu có dại gì mà nghĩ ngợi và buồn cho thế giới ấy. Chủ nhà đã lo đủ mọi thứ cần thiết cho mọi thú vui của họ. Có âm nhạc, khiêu vũ, sắc đẹp và rượu ngon. Tất cả những thứ đó đều có trong dinh, và trong dinh ấy họ sẽ được yên ổn. Bên ngoài bức tường kia là “Tử Thần Đỏ”.

Họ sống ở đó đã được năm sáu tháng. Vào khoảng cuối thời gian ấy, Nam tước Baron Prospero tổ chức cho các bạn của ông một buổi đại tiệc hóa trang. Buổi tiệc hôm đó cực kỳ huy hoàng. Nhưng trước hết xin hãy để tôi nói về những căn phòng được dùng để tổ chức dạ hội đó. Có bảy phòng. Trong nhiều dinh thự, các cửa thường được mở để mọi người có thể nhìn thông qua ngay một lúc những phòng giống như bảy phòng này. Nhưng ở dinh thự này lại khác hẳn. Cùng một lúc người ta chỉ có thể nhìn thấy một phòng thôi. Cứ hai ba mươi thước lại có một khúc quẹo.

Ở bên phải và bên trái, giữa mỗi bức tường có một cái cửa sổ cao và nhọn. Những cửa sổ này đều có gắn kính cùng màu với đồ đạc trong phòng. Phòng phía đông, trướng phủ tường đều bằng vải màu xanh – và cửa sổ cũng gắn kính màu xanh. Phòng thứ nhì có trướng màu tím đỏ và cửa sổ cũng màu tím đỏ. Phòng thứ ba màu xanh lá cây và cửa sổ cũng đồng màu ấy. Phòng thứ tư có trướng và cửa sổ màu vàng – phòng thứ năm màu trắng – phòng thứ sáu màu xanh pha đỏ mệnh danh là tím. Phòng thứ bảy có trướng bằng vải mềm và quý màu đen, và sàn phòng cũng được phủ một thứ vải như thế. Nhưng trong phòng này, cửa sổ lại gắn kính màu khác. Kính ở đây màu đỏ thắm – màu máu đỏ thắm.

Để soi sáng những phòng ấy người ta đốt lửa trong những lò sắt đặt bên ngoài mỗi cửa sổ. Ánh sáng lọt vào, trông thật là kỳ dị và nhiều khi lại đẹp nữa. Nhưng trong căn phòng phía tây hay căn phòng màu đen, ánh lửa chiếu qua những tấm kính màu máu rọi lên những bức trướng đen trông thật khủng khiếp, nó làm gương mặt của những người bước vào đây có một vẻ man rợ, đến nỗi rất ít người trong bọn họ dám đặt chân vào trong những bức tường đen tối đó.

Trong căn phòng ấy có kê một cái đồng hồ lớn bằng gỗ đen. Cái đồng hồ ấy đánh dấu những thời gian qua đi bằng thứ tiếng buồn man mác và nặng nề; khi tới giờ đánh chuông, người ta nghe thấy một tiếng trong, to và trầm, du dương như tiếng nhạc nhưng lại lạ lùng đến nỗi tất cả những người đang khiêu vũ đều dừng lại và đứng yên lắng nghe. Ngay cả những người vui tươi nhất cũng tái mặt đi, còn những người có tuổi hình như lại chìm đắm trong suy tư. Rồi tất cả mọi người lại cười và bảo nhau là lần sau họ sẽ không dừng chân để nghe nữa. Thế rồi, sau đó sáu mươi phút (ba ngàn sáu trăm giây của Thời Gian lướt qua) chuông đồng hồ ấy lại đánh và những người đang khiêu vũ lại dừng lại như trước.

Tuy nhiên, đó vẫn là một buổi dạ hội tưng bừng vui vẻ. Thị hiếu của chủ nhà không giống thị hiếu của người khác. Ông rất sành về màu sắc và công dụng của nó. Chương trình của ông thật táo bạo và cuồng nhiệt. Có một số người bảo rằng ông ta đã không tự kiểm soát được mình nữa. Nhưng những người theo ông đều tin tưởng vào ông. Cần phải nghe, nhìn, và tiếp xúc với ông ta để tin tưởng ông ta.

Chính thị hiếu của ông đã giúp người tham dự buổi dạ hội hóa trang hiểu biết về cách ăn mặc của họ. Bạn có thể chắc chắn là họ ngông và kỳ dị. Rất nhiều vẻ đẹp có điểm thêm ít nhiều vẻ kinh khủng và cũng chẳng thiếu vẻ ghê tởm. Đây đó thật ra có ngàn con người trong mộng, tản bộ qua các phòng.

Dường như bước chân họ không đi theo nhịp âm nhạc, mà chính nhạc đã phát ra từ bước chân họ.

Rồi tiếng chuông của cái đồng hồ đen đánh, và tất cả đều im lặng chỉ còn tiếng chuông đồng hồ ấy. Mọi người đứng trơ ra như bụt. Rồi tiếng nhạc lại nổi lên, những người trong mộng lại chuyển động, cười và nhảy múa vui vẻ, sung sướng hơn bao giờ hết, nhuộm mình vào màu cửa kính do ánh lửa bên ngoài hắt vào.

Nhưng trong căn phòng nằm ở tận phía tây, không còn người đeo mặt nạ nào tới đó nữa, vì một làn ánh sáng đỏ hơn tỏa xuyên qua cửa sổ và màu đen của những bức trướng khiến họ sợ, và người nào bước chân vào đó cũng nghe thấy tiếng chuông đồng hồ đen đánh rõ hơn.

Những căn phòng khác đều chật ních người. Và trong những căn phòng này nhịp sống đập một cách cuồng nhiệt. Cuộc khiêu vũ cứ tiếp tục kéo dài cho đến lúc chuông đồng hồ đánh 12 tiếng. Rồi tiếng nhạc ngừng, mọi người đang khiêu vũ đứng yên trong khi đó tiếng chuông đồng hồ vẫn điểm. Trước khi tiếng chuông đồng hồ ngừng lại, nhiều người trong bọn họ đã có thì giờ nhìn thấy rằng, lẫn trong bọn họ, có một người hóa trang ở đó từ nãy đến giờ mà họ không nhận thấy. Họ thì thầm với nhau về người khách lạ đó, mọi người đều cảm thấy ngạc nhiên, rồi kinh hãi và khủng khiếp, ghê tởm.

Trong một nhóm người như tôi vừa tả, ta có thể nói rằng chỉ một kẻ hóa trang rất kỳ dị mới có thể gây ra một cảm giác như thế. Ngay cả những người coi thường sống chết vẫn có một số sự việc không thể coi nhẹ được. Thật vậy, tất cả mọi người dường như đều cảm thấy không thể nào cho phép kẻ mặc cái áo dài kia dự dạ hội được. Người ấy cao lêu nghêu. Từ đầu tới chân phủ vải như một người chết sắp được an táng. Cái mặt nạ trên mặt người đó cũng giống y như bộ mặt người đã chết, đến nỗi người đứng gần nhất cũng không thể thấy được sự khác biệt. Tuy nhiên, tất cả những điều đó đều có thể được chấp nhận. Nhưng người khách đeo mặt nạ còn đi xa hơn đến độ bắt chước cả cái vẻ của “Tử Thần Đỏ.” Quần áo y có điểm những vết máu – và mặt y cũng điểm những chấm đỏ thắm khủng khiếp.

Khi Nam Tước Baron Prospero thấy hình dáng kinh khủng kia đi chậm chạp giữa những người khiêu vũ thì người ta nhận thấy trước tiên ông tỏ ra khiếp hãi, rồi giận dữ.

Ông quát lên: “Tên nào kia? Bắt lấy nó rồi lột mặt nạ nó ra để xem đến sáng chúng ta sẽ xử giảo tên nào đây?”

Baron Prospero đứng trong căn phòng phía đông màu xanh khi ông nói thế. Tiếng ông vang lên rõ rệt khắp cả bảy căn phòng. Nghe ông nói, mọi người đổ xô lại phía người lạ nhưng chẳng ai dám giơ tay ra để đụng tới người y.

Y đi cách vị Nam Tước không tới một thước; và trong khi mọi người nép vào hai bên tường, y tự do bước đều và chậm chạp qua căn phòng xanh rồi sang căn phòng tím đỏ – từ căn phòng màu tím đỏ sang căn phòng màu xanh lá cây – từ căn phòng màu xanh lá cây sang căn phòng màu vàng – từ phòng màu vàng sang phòng màu trắng – rồi sau đó sang phòng màu tím. Lúc bấy giờ Nam Tước Baron Prospero giận dữ và vội vã chạy xô qua sáu phòng. Vì sợ đến chết khiếp nên không ai theo Nam Tước cả. Giữa lúc Nam Tước cầm con dao găm giơ cao lên trên đầu khi chỉ còn cách kẻ lạ chừng ba bốn bước thì người này quay lại và đứng đối diện với ông.

Một tiếng kêu thét lên – con dao găm sáng loáng rơi xuống nền nhà đen, và một phút sau Nam Tước Baron Prospero cũng ngã xuống sàn nhà, nằm chết.

Tất cả mọi người xô nhau chạy vào căn phòng màu đen. Họ túm chặt lấy người khách lạ hóa trang đang đứng cao sừng sững bên cạnh cái đồng hồ đen và họ khủng khiếp kêu lên khi thấy phía trong bộ quần áo người chết và dưới cái mặt nạ giống như mặt người chết chỉ là khoảng không mà thôi. Đến lúc đó họ hiểu ra là “Tử Thần Đỏ” đã tới với họ rồi. Lần lượt từng người một ngã quỵ và từng người một chết ngay khi vừa ngã xuống. Và cái đồng hồ đen cũng chết luôn khi người khách cuối cùng ngã xuống. Lửa cũng tắt. Bóng Tối, Điêu Tàn, và “Tử Thần Đỏ” đã vĩnh viễn ngự trị trên tất cả.

_________________
Cầu cho Ukraine sớm có Hoà Bình.
LDN

LDN


Back to top Go down

Thumb up Re: Sách

Post by LDN Tue Jan 24, 2023 5:48 am

TRANG TRINH THÁM - by PHAN BA

CON BỌ HUNG VÀNG - EDGAR ALLAN POE - người dịch: LÊ BÁ KÔNG,
(The Gold Bug)

Nhiều năm trước đây tôi chơi rất thân với một người tên là William Legrand. Anh xuất thân trong một gia đình cổ và danh giá, trước kia giàu có nhưng về sau bị khánh kiệt. Vì không muốn nhiều người biết rõ chuyện phiền muộn của mình nên anh đã rời khỏi thành phố New Orleans là quê hương của anh và đến sống trên đảo Sullivan’s, gần đô thị Charleston, phía Nam bang Carolina.

Hòn đảo này dài chừng năm cây số và không có chỗ nào rộng hơn bốn trăm thước. Một lạch nước chảy lững lờ ngăn cách hòn đảo và đất liền. Trên đảo không có cây to. Gần cuối đảo, về phía Tây, có mấy căn nhà gỗ tồi tàn là nơi dân chúng từ đô thị Charleston lui tới vào mùa hè để tránh bụi bặm và nóng bức. Ở đây người ta chỉ thấy một ít cây cọ. Khắp đảo, trừ dọc bờ biển trắng xóa, đều có những cây sim phủ kín, giống thảo mộc này cao từ bốn đến sáu bộ, và hoa sim tỏa hương thơm dịu dàng trong không khí.

William Legrand dựng một căn nhà nhỏ gần cuối đảo về phía đông và sống tại đây khi tôi tình cờ gặp anh. Tình bạn giữa chúng tôi nảy nở rất nhanh chóng vì anh có nhiều đức tính làm tôi mến mộ. Tôi nhận thấy anh là người có học thức, với trí thông minh vượt mức bình thường, nhưng anh không thích giao du, và tính tình thất thường, khi vui vẻ khi buồn bã.

Anh có nhiều sách nhưng ít khi đọc. Hầu hết thời gian anh dùng vào việc săn bắn và câu cá, hay đi dạo chơi trên bờ biển và trong đám sim để tìm bọ hung. Anh đã tìm thấy rất nhiều bọ hung, đủ các loại hiếm có và giữ gìn chúng rất cẩn thận.

Một ông cụ người da đen, tên là Jupiter, thường theo anh trong những cuộc dạo chơi này. Hồi gia đình William Legrand còn giàu có đã mua lão Jupiter, rồi sau giải phóng cho lão ta, nhưng lão không muốn rời khỏi cậu chủ của lão.

Mùa Đông ở đảo Sullivan’s ít khi lạnh, và về cuối năm thường không cần phải đốt lửa sưởi ấm. Tuy nhiên vào khoảng giữa tháng 10 năm 18…, có một hôm thời tiết rất lạnh. Ngay trước khi mặt trời xế bóng tôi đi len giữa đám sim xanh um để đến nhà bạn tôi. Đã mấy tuần tôi không đến thăm anh. Hồi đó tôi ở Charleston, cách đảo mười lăm cây số, nhưng thời bấy giờ đi về không dễ dàng như ngày nay.

Khi tới căn nhà nhỏ, tôi gõ cửa nhưng không thấy ai trả lời nên tôi tìm chiếc chìa khóa dấu ở một nơi tôi đã biết. Tôi mở khóa cửa rồi vào trong nhà. Một ngọn lửa trong lò sưởi đang cháy làm tôi ngạc nhiên và thích thú. Tôi cởi áo choàng, ngồi trên một chiếc ghế lớn bên cạnh lò sưởi, và đợi hai bạn tôi trở về.

Sau chiều tà một lúc, họ trở về và có vẻ rất hoan hỷ được gặp tôi. Lão Jupiter cười ngoác cả miệng, đi lại lăng xăng để làm cơm. William Legrand thì coi bộ vui vẻ, hớn hở. Với sự giúp đỡ của lão Jupiter, anh đã tìm thấy và bắt được một con côn trùng lớn thuộc loài bọ hung mà anh tin rằng con bọ hung này hoàn toàn mới lạ đối với những người nào nghiên cứu về những giống này. Anh muốn rằng sáng hôm sau tôi sẽ cho anh biết ý kiến về con bọ hung này.

“Sao lại không bàn ngay tối nay.” Tôi vừa hỏi vừa đưa tay về phía lửa, và không muốn nghe chuyện côn trùng thuộc loại bọ hung.

William Legrand nói: “Chà, phải chi tôi đã biết trước là anh đến đây. Nhưng đã lâu tôi không gặp anh. Làm sao tôi biết trước được anh sẽ đến thăm tôi ngay đêm nay nhỉ? Khi tôi đang về nhà thì gặp một người bạn ở đầu hòn đảo bên kia, và tôi đưa hắn cầm con bọ hung đó. Đêm nay anh ở lại đây, rồi tới rạng đông tôi sẽ cho lão Jupiter đi lấy về. Nó đẹp tuyệt trần!”

“Sao? Rạng đông đẹp à?”

“Không, con bọ hung. Màu nó vàng óng ánh, dài chừng năm phân, có hai chấm đen ở gần đuôi và một chấm đen khác dài hơn ở phía đầu. Nhưng sợi râu thì thiệt là…”

Lão Jupiter nghe không rõ, vội cãi: “Nó không phải bằng thiếc đâu cậu ạ, cháu cam đoan vậy. Con bọ này có một chất quý hơn thiếc. Nó là con bọ hung vàng, toàn vàng, hết thảy cả trong lẫn ngoài, chỉ trừ cánh. Trong đời cháu chưa bao giờ thấy con bọ hung nào nặng như thế.”

William Legrand trả lời: “Ừ thì cho nó là bằng vàng, nhưng không phải vì thế mà lão để cháy khê thức ăn nhé! Màu của nó (nói đến đây anh quay về phía tôi) thật đúng như lời lão Jupiter nói. Chưa bao giờ anh trông thấy một thứ gì sáng óng ánh hơn con bọ hung này – nhưng đến mai anh mới có thể thẩm định được. Tuy nhiên tôi có thể cho anh biết sơ qua về hình dáng nó.” Nói đến đây anh ngồi trước một cái bàn nhỏ, tìm giấy nhưng không thấy. Cuối cùng anh nói: “Không cần, dùng miếng này cũng được”. Anh rút trong áo ra một miếng gì trông như tấm giấy cũ, bẩn và dày, rồi vẽ trên mặt giấy. Trong khi anh vẽ, tôi vẫn ngồi cạnh lửa vì tôi vẫn thấy rét. Khi vẽ xong anh trao tấm giấy cho tôi mà không đứng dậy. Khi tôi cầm tấm giấy, chúng tôi nghe thấy tiếng động ở ngoài cửa. Lão Jupiter mở cửa, một con chó lớn của William Legrand chạy vào, nó nhảy chồm lên vai tôi và áp mặt nó lên mặt tôi; chúng tôi đã thân nhau trong những lần tôi đến chơi trước. Khi nó nhảy xuống, tôi nhìn tấm giấy, và thực tình tôi thấy rất khó hiểu hình vẽ bạn tôi vừa đưa tôi xem.

“Ừ,” tôi nói sau khi nhìn hình vẽ mấy phút, “con bọ hung này thật là kỳ lạ. Bây giờ mới thấy lần đầu tiên, trước kia tôi chưa hề thấy cái gì như thế này – trừ khi nó là cái sọ người, hay là cái đầu lâu người chết. Trông nó giống thế hơn là bất kỳ cái gì khác tôi từng trông thấy.”

William Legrand nói: “Cái đầu người chết! Ờ, phải, phải rồi, trông trên giấy thấy giống như vậy thật, chắc là thế. Hai cái chấm đen ở trên trông như hai con mắt và cái chấm dài hơn ở dưới như cái miệng – thế rồi lại cả hình dạng của toàn thể con bọ nữa.”

Tôi nói: “Có lẽ thế, nhưng anh William Legrand ạ, tôi e rằng tài vẽ của anh còn kém cỏi chăng. Tôi phải đợi để chính mắt được xem con bọ đó nếu tôi muốn biết hình dạng nó ra sao?”

Anh nói: “Không biết nữa. Hình này vẽ không đến nỗi dở lắm, phải không?”

Tôi nói: “Bạn ơi, cái đầu lâu này bạn vẽ rất khá, thật đấy mà, tôi có thể nói rằng rất cừ là đằng khác và con bọ hung của anh phải là một con bọ kỳ dị nhất thế giới nếu nó giống như thế này. Còn những cái râu mà anh nói đâu?”

William Legrand nói: “Râu à! Tôi chắc anh trông thấy những cái râu chứ. Tôi vẽ rất rõ cơ mà.”

“Có lẽ anh đã vẽ, nhưng tôi chẳng thấy gì cả,” tôi nói rồi trao cho anh mảnh giấy. Quả thật tôi không trông thấy râu nó đâu cả, và toàn thể hình vẽ trông rất giống những hình vẽ đầu người chết mà ta vẫn thường thấy.

Anh cầm tờ giấy, sắp sửa ném nó vào lửa thì thấy một điều gì đập vào mắt mình. Một lúc sau mặt anh đỏ rần, rồi lại tái nhợt. Anh tiếp tục ngắm nghía hình vẽ rất kỹ trong mấy phút. Cuối cùng anh cầm tờ giấy tới góc phòng bên kia rồi lại nhìn nữa, xoay tấm giấy đủ mọi phía nhưng không nói câu nào. Anh làm tôi ngạc nhiên, nhưng tôi thấy cần phải làm ra vẻ không để ý tới những cử chỉ kỳ quặc của anh.

Một lúc sau, anh cẩn thận cất tấm giấy trong bàn viết. Từ đó anh lộ vẻ suy tư mỗi lúc một nhiều hơn. Đêm hôm đó, tôi định ở lại nhà anh như nhiều lần trước nhưng lần này tôi thấy nên về là hơn. Anh không giữ tôi ở lại, nhưng khi tôi từ biệt, anh cầm tay tôi và xiết chặt một cách nồng nhiệt hơn thường lệ.

* * *

Sau đó chừng một tháng, lão Jupiter đến Charleston thăm tôi. Tôi chưa bao giờ thấy lão già da đen hiền lành đó lại có vẻ buồn bã như thế, và tôi sợ rằng bạn tôi gặp điều gì phiền muộn hệ trọng chăng.

Tôi nói: “Này, bác Jupiter, có chuyện gì thế?”

“Thú thực với cậu, cậu William cháu không được khỏe lắm”.

“Nghe bác nói tôi buồn quá. Cậu ấy đau ra sao?”

“Cậu cháu chẳng nói năng gì cả. Nhưng bịnh nặng lắm”.

“Bịnh nặng lắm, hả bác Jupiter. Cậu ấy đau liệt giường hay sao?”

“Thưa, không ạ. Cháu lo ngại cho cậu William quá. Cậu cháu chẳng cho biết bị bịnh gì cả. Trái lại, không hiểu tại sao cậu cháu cứ đi lang thang, đầu cúi gầm xuống, vai so lên và mặt nhợt nhạt? Hơn nữa cậu cháu cứ viết những con số hoài – những con số quái lạ nhất mà bây giờ cháu mới thấy. Cháu sắp hoảng lên đây, cậu ạ. Cháu phải canh chừng cậu cháu mới được. Hôm nọ cậu cháu ra đi trước khi mặt trời mọc rồi suốt cả ngày hôm đó không trở về. Vả lại, trông cậu cháu tiều tụy quá!”

“Thế bác không biết nguyên nhân căn bịnh này sao? Hay nói cho đúng hơn, sự gì đã làm cậu ấy thay đổi như thế? Có gì xảy ra từ khi tôi gặp cậu ta không?”

“Thưa không, chẳng có gì xảy ra từ hôm đó cả. Sự này xảy ra ngay hôm cậu ở đó.”

“Sao? Bác nói sao?”

“Cháu muốn nói con bọ hung. Đó, chuyện chỉ có thế!”

“Con bọ hung à?”

“Cậu William bị con bọ hung vàng làm hại. Con bọ hung ấy dữ lắm. Cháu chưa bao giờ thấy một con bọ hung nào dữ tợn như thế. Mới đầu cậu William bắt nó, nhưng cậu ấy phải thả ngay nó ra. Miệng con bọ hung đó trông dễ sợ quá. Cháu không dám cầm nó bằng tay cháu. Cháu bắt nó bằng một tấm giấy mà cháu tìm thấy rồi cháu quấn tờ giấy chung quanh mình nó, cháu bắt nó như thế đó.”

“Thế bác nghĩ rằng đúng con bọ hung đó là nguyên nhân cảnh huống này sao?”

“Cháu không còn nghi ngờ gì cả, cháu biết chắc như thế mà. Vậy cái gì làm cậu William mơ tưởng tới vàng liên mien như vậy, nếu không phải là con bọ hung vàng?”

“Tại sao bác biết cậu ta mơ tưởng đến vàng?”

“Vì cậu cháu nói thế trong giấc ngủ! Vì vậy mà cháu biết.”

“Này bác Jupiter, có phải bác đến để kể cho tôi biết chuyện này không?”

“Thưa không ạ, cháu đến để đưa cậu bức thư này.”

Lão đưa cho tôi một bức thư viết như sau:

Thân gởi Anh,

Tại sao lâu nay tôi không gặp anh? Tôi mong rằng tôi đã không làm hay nói điều gì làm anh phải xa lánh tôi, nhưng không, chúng ta hiểu nhau quá mà.

Từ khi gặp anh tôi đã khám phá ra một chuyện muốn nói với anh, tuy nhiên tôi không biết nói chuyện này ra sao, và chẳng hiểu có nên nói hay không.

Mấy bữa qua tôi không được mạnh lắm, còn lão Jupiter khốn khổ thì lúc nào cũng quanh quẩn bên tôi để cố săn sóc tôi một cách quá ân cần.

Từ hôm chúng ta gặp nhau lần cuối cùng, tôi không tìm được con bọ hung nào khác.

Nếu có thể được, mời anh cùng đến với lão Jupiter. Mong anh tới. Tôi muốn gặp anh tối nay vì có một việc quan trọng.

Tôi có thể nói với anh rằng việc này tối quan trọng.

Thân ái,

William Legrand

Bức thư này làm tôi lo ngại. Lời lẽ có vẻ không phải của anh. Anh đang lo âu một việc gì? “Việc tối quan trọng” của anh là việc gì? Lão Jupiter lại cho tôi biết là anh không được khỏe. Tôi e rằng anh mất trí vì những điều phiền muộn chăng. Bởi vậy tôi liền đi ngay với lão Jupiter.

Khi tới bờ lạch, tôi trông thấy một cái hái và ba cái mai, tất cả đều mới, nằm dưới đáy thuyền. Tôi hỏi: “Những thứ này dùng để làm gì? Cậu William nhà bác định dùng những thứ này để làm gì?”

Lão Jupiter nói: “Cháu hiểu sao nổi, và cháu cho rằng đến cả cậu cháu cũng không hiểu nốt. Nhưng hết thảy đều tại con bọ hung vàng mà ra cả.”

The Gold BugTHE GOLD BUG
Tôi tới căn nhà nhỏ vào lúc gần ba giờ chiều. William Legrand nắm tay tôi một cách nồng nhiệt, bồn chồn làm tôi ngạc nhiên và tăng thêm mối lo ngại về anh. Mặt anh trắng bệch, hai mắt sâu hoắm sáng quắc. Sau vài ba câu hỏi thăm sức khỏe, tôi hỏi anh xem người bạn kia đã trả con bọ hung chưa.

Anh trả lời, vẻ mặt biến sắc: “À, có. Tôi lấy nó lại ngay sáng hôm sau. Không gì có thể chia rẽ tôi với con bọ hung được. Anh có biết rằng lão Jupiter nói đúng về nó không?”

“Đúng thế nào?” Tôi hỏi, và sợ phải nghe câu trả lời tiếp theo.

“Vì hắn cho rằng con bọ hung đó bằng vàng thật.” Anh nói câu đó một cách rất nghiêm trang. “Con bọ hung sẽ làm tôi giàu,” anh nói tiếp. “Giàu như trước kia! Tôi chỉ cần sử dụng con bọ hung đúng cách, rồi tôi sẽ tìm được đến chỗ có vàng như nó đã báo điềm trước. Này bác Jupiter, bác đưa cho tôi con bọ hung đó.”

“Gì ạ, con bọ hung hả cậu? Cháu không muốn quấy rầy con bọ hung đó đâu. Cậu đi mà lấy.”

William Legrand đứng dậy rồi đem con bọ hung lại cho tôi. Con bọ này đẹp thật và chưa từng có con nào như vậy. Gần phía cuối đuôi có hai chấm đen tròn, và một chấm dài ở gần phía trước. Thân nó cứng và có màu vàng óng ánh. Nó cũng nặng lắm. Xét ra, tôi có thể hiểu tại sao lão Jupiter lại sợ hãi con bọ hung này. Tuy nhiên, tôi không hiểu tại sao một người có học thức như William Legrand lại có thể đồng ý với lão Jupiter.

William Legrand nói: “Tôi cho mời anh đến để được anh giúp trong việc lấy những của cải mà thần thánh và con bọ hung này ban cho tôi.”

Tôi la lên: “Anh William, nhất định anh bị bịnh rồi. Anh phải nằm nghỉ mới được, tôi sẽ ở lại đây cho tới khi anh bình phục.”

Anh nói: “Anh sờ tim tôi đập mà xem.”

Tôi sờ tim đập thì sự thực không thấy anh bị bệnh gì cả.

“Nhưng tôi vẫn cho rằng anh nên đi nằm thì hơn.”

William Legrand nói: “Được biết những điều tôi hiện đang biết, mà tôi vẫn khoẻ thế này là tốt hết sức rồi. Nếu quả thật anh muốn làm tôi được dễ chịu hơn, tôi có thể bảo anh cách làm việc đó.”

“Tôi phải làm gì?”

“Dễ lắm. Lão Jupiter và tôi sắp đi vào miền núi, bên đất liền, và chúng tôi cần sự giúp đỡ của một người chúng tôi có thể tin cậy được; người đó là anh. Dù chúng ta thành công hay thất bại, anh cũng sẽ thấy rằng tôi sẽ lành bệnh.”

Tôi đáp: “Tôi muốn giúp anh; nhưng có phải anh định nói rằng con bọ hung này có liên quan đến việc anh đi vào miền núi không?”

“Phải”.

“Nếu thế, tôi không muốn dính dáng gì đến chuyến đi này đâu?”

“Vậy thì phiền quá, vì chúng tôi sẽ phải cố làm việc đó một mình. Chúng tôi sẽ đi ngay lập tức và sẽ trở về lúc rạng đông.”

“Nếu tôi đi, anh có lấy danh dự hứa rằng khi nào giải quyết xong việc con bọ hung này, anh sẽ trở về nhà và làm đúng như lời tôi nói không?”

“Có, tôi xin hứa như vậy, bây giờ chúng ta hãy đi kẻo phí thì giờ.”

Tôi đi với bạn tôi mà lòng buồn bã. Chúng tôi bắt đầu ra đi hồi bốn giờ chiều. William Legrand, lão Jupiter, con chó, và tôi. Lão Jupiter cầm hái và mai, vì theo như tôi nghĩ, lão sợ giao những thứ đó vào tay cậu chủ của lão. Về phần tôi, tôi đảm nhiệm việc cầm hai cái đèn. William Legrand cầm con bọ hung, anh đã buộc nó vào một sợi dây. Trong khi chúng tôi đi đường anh cử động cánh tay làm con bọ hung như bay chung quanh chúng tôi. Khi trông thấy thế tôi gần như muốn khóc vì thương hại trí óc cuồng loạn của bạn tôi. Tuy nhiên, lúc đó tôi thấy không nên đả động gì đến con bọ hung thì hơn.

Để trả lời những câu hỏi của tôi về mục đích cuộc đi này, anh chỉ đáp: “Rồi anh sẽ biết.”

Chúng tôi vượt qua giòng nước, đi lên phía đất cao ở bên đất liền, và tiếp tục tiến về phía Tây Bắc, xuyên qua một vùng hoang vu, không thấy một vết chân người. William Legrand dẫn đầu, thỉnh thoảng lại dừng chân để tìm những chỗ mà anh đã đánh dấu trong chuyến đi trước.

Chúng tôi cứ tiếp tục đi như vậy trong hai giờ, và khi mặt trời vừa ngả về Tây, chúng tôi đã tới một khoảng đất bằng phẳng, bên sườn một ngọn đồi rất cao. Tôi chưa thấy chỗ nào hoang dã như chỗ này. Cây cối rậm rạp, những tảng đá lớn nằm ngổn ngang trên mặt đất.

Đi tới đây, lão Jupiter phải dùng cái hái để phát những bụi cây rậm rạp. Dưới sự điều khiển của William Legrand, lão Jupiter dọn lối cho chúng tôi đi đến một cây lớn mọc cao hơn hẳn các cây khác chung quanh nó. Cây này có dáng thon và đẹp nhất tôi từng thấy. Khi chúng tôi tới nơi, William Legrand quay lại hỏi lão Jupiter có thể trèo lên cây đó không.

Lão già lộ vẻ ngạc nhiên về câu hỏi. Lão bước chậm chạp chung quanh thân cây và ngắm nghía cẩn thận, rồi nói: “Thưa cậu, trèo được ạ, tôi có thể trèo bất cứ cây nào.”

“Vậy lão trèo nhanh lên kẻo trời sắp tối mịt thì không còn trông thấy những việc chúng ta đang làm.”

“Cháu phải trèo cao tới đâu, hả cậu?”

“Cứ trèo thẳng tít lên đã, rồi tôi sẽ bảo. À này, cầm theo con bọ hung nữa.”

“Con bọ hung, hả cậu William! Con bọ hung!” lão da đen vừa la vừa lảng ra chỗ khác. “Để làm gì?”

“Này lão Jupiter, nếu to xác như bác mà sợ con bọ hung tí xíu chết tiệt này thì bác cầm sợi dây này. Nếu bác không chịu cầm con bọ hung này, tôi sẽ nện bể đầu bác bằng cái mai này cho coi.”

Lão Jupiter nói: “Cậu bảo sao? Cháu mà sợ con bọ hung này hả? Con bọ hung này làm gì được cháu?” Lão ta cầm lấy sợi dây, và tay cầm con bọ hung giang xa hết sức có thể rồi sửa soạn trèo lên cây.

Lão cố sức giang cánh tay và đầu gối để ôm chặt vào thân cây rồi bắt đầu trèo lên. Cuối cùng, sau một vài lần xuýt té, lão trèo tới cành cây lớn thứ nhất, cách mặt đất chừng mười tám hay hai mươi thước.

Lão Jupiter hỏi: “Trèo đâu bây giờ, hả cậu William?”

William Legrand nói: “Trèo lên cành cây lớn nhất đó.”

Lão Jupiter lại tiếp tục trèo, mỗi lúc một cao, cho tới khi chúng tôi không trông thấy lão nữa. Một lát sau chúng tôi nghe tiếng lão nói:

“Cháu phải lên bao xa nữa?”

“Bác lên tới đâu rồi?” William Legrand hỏi.

Người da đen trả lời: “Xa lắm. Cháu có thể trông thấy bầu trời qua ngọn cây rồi.”

“Mặc kệ trời với đất, hãy lắng tai nghe tôi nói. Nhìn xuống dưới cây rồi đếm những cành cây ở phía dưới bác về bên này. Bác đã trèo được bao nhiêu cành rồi?”

“Một, hai, ba, bốn, năm – cháu trèo được năm cành bự ở phía bên này rồi, cậu ạ!”

“Vậy bác leo lên cành trên nữa”.

Mấy phút sau chúng tôi lại nghe thấy tiếng lão ta đã trèo tới cành thứ bảy.

William Legrand la: “Này bác Jupiter, bây giờ tôi muốn bác trèo ra tít ngoài đầu cành đó. Nếu bác trông thấy vật gì lạ thì cho tôi hay.”

Đến lúc này tôi chắc là bạn tôi mất trí thật rồi. Làm thế nào để bảo anh trở về nhà?

Chúng tôi lại nghe thấy tiếng lão Jupiter: “Trèo quá ra ngoài thì sợ lắm vì cành này chết héo rồi mà!”

William Legrand nói: “Trời đất ơi, thế này thì tôi phải làm sao bây giờ?”

Tôi nói: “Làm sao! Đi về mà ngủ. Đi nào, bồ! Khuya rồi đấy, anh nhớ lời anh hứa chứ!”

Anh la lên: “Này bác Jupiter, có nghe thấy tôi nói không? Thử gỗ xem. Chém sâu vào xem. Có thật cành đó đã chết và mục rồi không?”

Người da đen trả lời: “Đúng là nó mục rồi. Nếu cháu quẳng quách con bọ hung nặng chình chịch này đi, thì cháu sẽ không làm gãy cành.”

William Legrand la lên: “Lão Jupiter, nếu lão để con bọ hung rơi xuống, tôi sẽ vặn cổ lão. Có nghe tôi nói không?”

“Thưa cậu, có ạ!”

“Trèo ra ngoài cành đó, cầm cả con bọ hung nữa, trèo ra tới hết chỗ còn vững chắc thì thôi, rồi tôi sẽ thưởng cho một đồng bạc.”

Người da đen trả lời: “Cháu đang trèo ra gần tới đầu cành rồi đây.”

“Ra tận đầu cành!” William Legrand la lớn tiếng. “Tận đầu cành!”

“Gần đầu cành rồi cậu ơi! Ô… ối, lạy Chúa tôi! Cái gì ở trên đây thế này?”

William Legrand mừng cuống quít rồi la lên: “Này! Cái gì thế?”

“Cậu ơi, có cái sọ người thôi! Kẻ nào đã bỏ lại cái đầu lâu ở trên cây để đàn chim rỉa thịt hết trơn hết trọi à.”

“Cái sọ hả! Tốt lắm! Nó được gắn vào cây như thế nào?”

“Thưa cậu, cháu phải nhìn đã. Kỳ cục quá. Một chiếc đinh bự đóng chặt cái sọ vào cây.”

“Này bác Jupiter, bây giờ bác hãy làm đúng như lời tôi dặn, bác có nghe thấy không? Tìm con mắt bên trái của cái sọ. Bác có biết mắt nào phải và mắt nào trái không?”

“Có phải mắt trái của cái sọ ở cùng phía với tay trái của cái sọ không? Dĩ nhiên là cái sọ không có tay nhưng đây là mắt trái. Cháu phải làm gì đây?”

“Luồn con bọ hung qua mắt trái rồi thả hết dây xuống, nhưng phải giữ lấy dây.”

Trong lúc hai người nói với nhau, chúng tôi không trông thấy lão Jupiter nhưng lúc này con bọ hung hiện ra ở đầu dây, óng ánh như vàng trong ánh mặt trời tàn. Nếu để nó rơi, nó sẽ sa xuống chân chúng tôi.

William Legrand cầm một cái hái hình tròn đường kính chừng ba bốn thước; rồi anh bảo lão Jupiter buông dây ra và trèo xuống.

Anh lấy một cái cọc gỗ đánh dấu chỗ con bọ hung vừa rơi xuống. Rồi anh lấy ra một cái thước dây dài, buộc một đầu dây vào thân cây gần cái cọc gỗ đánh dấu mà anh vừa cắm. Rồi anh kéo cái thước dây từ thân cây ra đến cọc gỗ đánh dấu, rồi cứ thẳng theo hướng đó, anh đi thong thả, kéo theo cái thước dây. Lão Jupiter đi phía trước anh và dùng cái hái để dọn lối đi. Sau khi đi được mười lăm thước anh đứng lại và cắm xuống đất một cái cọc gỗ đánh dấu nữa.

Tại đây anh vạch một hình tròn nữa, đường kính độ 1 thước 20. William Legrand cầm một cái mai, đưa cho lão Jupiter một cái và tôi một cái rồi bảo chúng tôi bắt đầu đào sâu xuống đất và đào thật nhanh.

Sự thực, tôi không thích việc làm này một chút nào, nhưng tôi không muốn từ chối người bạn đáng thương đó. Tôi biết chắc rằng anh đã nghe thấy chuyện chôn của cải dưới đất và tin như vậy. Ý nghĩ này đã trở nên mãnh liệt hơn vì lão Jupiter nói rằng con bọ hung bằng vàng thật. Nhưng tôi không thể làm gì hơn là cầm cái mai hăm hở đào. Rồi anh sẽ tự biết là mình lầm.

Lúc này chúng tôi đã cần phải đốt đèn. Hai cái đèn chiếu sáng trong khi chúng tôi bắt đầu đào. Tôi nghĩ đến cảnh tượng chúng tôi bày ra ở chỗ đó. Nếu người nào tình cờ gặp chúng tôi họ sẽ cho rằng những hành động của chúng tôi thật là kỳ quái!

Chúng tôi đào suốt hai giờ. Nói với nhau rất ít, chỉ có tiếng chó sủa. William Legrand sợ có kẻ nào nghe thấy tiếng chó sủa mà tìm thấy chúng tôi ở đó – phải chi có ai tìm thấy chúng tôi thật thì tôi mừng quá. Sau cùng lão Jupiter nhảy ra ngoài cái hố chúng tôi đang đào để bịt mõm con chó lại.

Chúng tôi đã đào sâu độ một thước rưỡi nhưng không thấy của cải đâu cả. Chúng tôi dừng lại, tôi bắt đầu mừng thầm là cái trò điên cuồng này sắp chấm dứt. Tuy nhiên, William Legrand bắt đầu nới rộng cái vòng ra và chúng tôi đào sâu thêm sáu tấc nữa. Vẫn không thấy gì cả. Rốt cuộc kẻ tìm vàng đành phải ngừng lại. Anh mặc áo và bảo lão Jupiter cầm mấy cái mai và hái.

Khi chúng tôi đã đi được chừng mười hai bước theo hướng về nhà thì William Legrand bỗng quay lại phía lão Jupiter.

Anh nói: “Đồ ngu như bò! Trả lời ta ngay lập tức. Mắt trái của lão đâu?”

“Ô, cậu William, mắt trái của cháu đây ạ.” lão Jupiter vừa la vừa đặt tay lên trên mắt phải rồi cứ để nguyên tay như vậy.

“Ta đã đoán đúng vậy mà! Ta biết mà!” William Legrand la lên. Anh nhảy cẫng lên. “Chúng ta phải quay lại. Trò chơi chưa xong đâu.” Anh đi đầu trong lúc chúng tôi quay lại cái cây lớn ấy.

Rồi anh nói: “Jupiter, lại đây! Cái sọ đóng quay mặt ra ngoài hay về phía cành cây?”

“Mặt quay ra ngoài, cậu ạ, có thế đàn chim mới dễ rỉa hai con mắt, chẳng phải khó khăn gì”.

“Thế lão thả con bọ hung qua mắt này hay mắt kia?”

William Legrand sờ vào từng mắt của lão Jupiter.

“Mắt này, cậu ạ – mắt trái – đúng như lời cậu dặn,” lão da đen sờ vào mắt bên phải của lão.

“Chúng ta phải thử lại.”

Tôi bắt đầu nhận thấy những hành động của bạn tôi đều có phương pháp mạch lạc, tuy nhiên tôi vẫn cho rằng anh bị mất trí. Anh chuyển cái cọc đánh dấu từ chỗ con bọ hung rơi tới một chỗ cách đó chừng bảy phân về phía Tây. Anh lấy cái thước dây, đặt như trước, từ cái cây đến cái cọc, rồi kéo ra xa độ mười lăm thước. Chỗ mới này cách nơi chúng tôi vừa đào mấy thước.

Chúng tôi lại cầm mai để bắt đầu đào. Tôi bỗng cảm thấy hứng thú một cách lạ lùng, mặc dầu không biết tại sao. Có lẽ từ cách suy nghĩ của anh đã làm tôi thay đổi như vậy. Tôi hăng hái đào, và thỉnh thoảng lại nhìn xem có tìm thấy vàng trong khi tôi vẫn chắc chắn là không có.

Có lẽ chúng tôi đã đào được một giờ rưỡi thì lại nghe chó sủa. Lần này lão Jupiter không thể giữ nó lâu để kịp buộc mõm nó lại. Nó sổng ra khỏi tay lão Jupiter và nhảy xuống hố, rồi nó bắt đầu bới đất loạn xạ. Một lúc sau, chúng tôi trông thấy ở dưới hố có hai bộ xương người và hình như cả những mảnh áo nữa. Khi chúng tôi tiếp tục đào nữa thì hiện ra ba bốn đồng tiền vàng và bạc.

Lão Jupiter mừng rỡ khi trông thấy những đồng tiền này, nhưng mặt chủ của lão thì lại lộ vẻ rằng anh không mong chỉ tìm thấy có thế thôi. Do đó anh bảo chúng tôi cứ tiếp tục đào, và ngay lúc đó tôi ngã nhào về phía trước vì hai chân vướng phải một cái vòng sắt lớn.

Lúc này chúng tôi đào hăng hơn trước, và tôi chưa bao giờ cảm thấy thích thú như vậy trong mười phút sau đó. Lúc này chúng tôi đã đào trúng một cái rương gỗ dài một thước, rộng chín tấc, và sâu bảy tấc rưỡi. Cái rương được cột chặt bằng những đai sắt. Mỗi đầu có ba cái vòng sắt – sáu cái vòng tất cả – để sáu người có thể khiêng được nó. Ba chúng tôi chỉ xê dịch cái rương được một chút xíu ở dưới hố. Chúng tôi thấy ngay rằng chúng tôi không thể nào nhấc được cái rương quá nặng như vậy.

Tuy nhiên, những cái đai này dễ mở. Chúng tôi vừa run lập cập vừa mở nắp rương ra. Trong khoảnh khắc vàng bạc châu báu nhiều vô số, lấp lánh hiện ra trước mắt chúng tôi. Hai cái đèn chiếu ánh sáng xuống tận dưới hố sâu, vàng và bảo thạch lóng lánh toả ánh sáng làm chúng tôi hoa mắt.

Tôi không thể tả hết những cảm giác của tôi trong lúc đó. Dĩ nhiên lúc đầu tôi ngạc nhiên và sửng sốt. William Legrand chỉ nói được mấy câu. Mặt lão Jupiter thì xanh như chàm đổ. Lão quỳ dưới hố, vục cả hai cánh tay vào đống vàng, và lão cứ ngồi như thế có vẻ cảm thấy thú vị khi được sờ tay vào vàng.

Cuối cùng lão nói: “Tất cả châu báu này đều do con bọ hung vàng mà ra! Con bọ hung vàng trông mới xinh làm sao! Con bọ hung vàng trông mới tội nghiệp làm sao! Con bọ hung vàng tôi đã ghét bỏ”.

Rốt cuộc tôi phải bảo William Legrand và lão Jupiter biết rằng phải chuyển cái rương này đi. Chúng tôi lấy ra độ hai phần ba báu vật, dấu trên mặt đất để con chó canh giữ. Rồi chúng tôi vội khiêng về nhà cái rương và số châu báu còn lại. Đến một giờ sáng thì chúng tôi về tới nhà. Chúng tôi nghỉ đến hai giờ sáng, ăn uống qua loa rồi mang ba cái túi thật dày trở lại cái hố chúng tôi đã đào. Chúng tôi chia số vàng và bảo thạch còn lại thành ba phần đều nhau rồi lại trở về nhà. Lần thứ hai chúng tôi về tới nhà ngay trước khi mặt trời mọc. Chúng tôi buồn ngủ lắm, nhưng sau ba bốn giờ trằn trọc chúng tôi lại trở dậy để xem xét đếm vàng của chúng tôi.

Chúng tôi ngồi suốt cả ngày và gần hết đêm hôm sau để xem xét tỉ mỉ cái rương đựng những gì. Chúng tôi nhận ra rằng chúng tôi đã kiếm được nhiều hơn là đã phỏng đoán lúc đầu. Về tiền thì có hơn bốn trăm năm mươi ngàn Mỹ kim, con số mà chúng tôi tính gần sát. Không có tiền bằng bạc. Chỉ có toàn tiền vàng, những đồng tiền lâu đời thuộc đủ các loại – Pháp, Tây Ban Nha, Đức, và Anh. Có những đồng đã được sử dụng nhiều đến nỗi không đọc được những chữ đúc trên mặt.

Việc trị giá các bảo thạch lại khó hơn. Nhiều thứ rất lớn và trong vắt, và lại có rất nhiều loại – một trăm mười viên kim cương, mười tám viên hồng ngọc, ba trăm mười viên ngọc bích, hai mươi mốt viên lam ngọc, và một viên ngọc mắt mèo.

Những viên bảo thạch này trước kia đã được cẩn vào đồ trang sức bằng vàng. Chúng tôi còn thấy cả những đồ trang sức đó nữa, nhưng đã bị đập bẹp. Cũng có gần hai trăm cái nhẫn và hoa tai rất nặng, những vòng đeo cổ quý giá – tôi nhớ hình như ba mươi vòng thì phải, và nhiều thứ khác. Tất cả những thứ này phải nặng hơn một trăm năm mươi ký, đó là tôi không kể một trăm chín mươi bảy cái đồng hồ vàng. Cuối cùng chúng tôi thấy tất cả những đồ quý báu này đáng giá trên một triệu rưỡi Mỹ kim.

William Legrand thấy tôi đang nóng ruột muốn biết rõ đầu đuôi vụ này.

Anh nói: “Anh còn nhớ hôm tôi đưa anh tấm hình con bọ hung mà tôi đã vẽ. Và anh cũng nói rằng hình vẽ trông giống cái sọ người. Tôi tưởng anh chế nhạo hình vẽ của tôi, và tôi không thích anh nói đùa như vậy. Khi anh trả lại tôi tấm giấy da mỏng đó, tôi bực mình định quẳng luôn nó vào lửa.”

“Anh định nói mảnh giấy chứ,” tôi nói.

“Không. Trông nó giống giấy lắm, nhưng khi vẽ tôi mới thấy nó là một miếng da mỏng. Như anh đã biết, trước kia rất lâu người ta đã dùng da mỏng để viết và ghi những tài liệu quan trọng không thể ghi vào giấy. Trong lúc tôi sắp ném mảnh da mỏng đó vào lửa, tôi thấy quả thật có hình vẽ cái đầu lâu ở ngay chỗ tôi đã vẽ con bọ hung. Tôi đến cuối phòng đằng kia rồi ngắm tấm giấy da cẩn thận hơn. Khi lật tấm giấy da tôi thấy hình con bọ hung như tôi đã vẽ. Nhưng sự thật thì cả hai hình vẽ rất giống nhau, và thoạt đầu tôi đã ngạc nhiên về điều này đến nỗi tôi không nghĩ được gì hơn.

“Rồi dần dà tôi bắt đầu nhận thấy rằng còn có sự kỳ dị hơn. Khi tôi vẽ con bọ hung thì cả hai mặt miếng giấy da không có hình vẽ. Tôi còn nhớ đã lật đi lật lại miếng giấy da để tìm một chỗ sạch để dùng. Nếu lúc đó đã có hình vẽ cái sọ thì tôi không thể nào không nhận thấy được. Đây quả là một sự bí mật, nhưng sâu trong trí óc tiềm tàng của tôi nó như một ánh lửa ở phía xa xa, tôi có thể trông thấy đầu mối của sự thật mà chúng ta đã chứng minh đêm qua. Tôi cất miếng giấy da để khi nào ngồi một mình sẽ suy nghĩ.

“Khi anh đã ra về và lão Jupiter đã ngủ, trước hết tôi bắt đầu nghĩ đến chỗ đã nhặt được tấm giấy da. Chúng tôi bắt được con bọ hung ở bên đất liền. Tôi đã cầm lên nhưng vì sợ nên lại bỏ nó xuống. Rồi lão Jupiter nhìn quanh quẩn để tìm một vật gì để có thể cầm nó. Lão ta trông thấy một góc miếng giấy da liền lôi lên, vì một nửa tấm giấy vùi ở dưới đất. Gần chỗ đó, tôi trông thấy một vật gì như gỗ mục trước kia là một chiếc xuồng trên tàu biển.

“Lão Jupiter bắt con bọ hung bằng tấm giấy da rồi đưa cho tôi. Trên đường về, chúng tôi gặp người bạn, và đưa hắn con bọ hung đó. Nhưng tôi vô tình giữ lại tấm giấy da. Về sau, chắc anh còn nhớ khi tôi tìm một mảnh giấy để vẽ lại con bọ hung, tôi đã lấy tấm giấy da này ở trong áo tôi.

“Tôi đã chắp hai đoạn mối dây liên lạc vĩ đại này với nhau. Có một chiếc xuồng nằm ở trên bờ biển, và gần chiếc xuồng có một miếng giấy da – không phải giấy thường – có hình một cái sọ. Cái sọ là biểu hiện quen thuộc của bọn hải tặc.

“Đây là da chứ không phải là giấy. Viết lên da không phải dễ, nhưng nó bền hầu như mãi mãi. Đối với tôi, sự kiện đó có một ý nghĩa. Hơn nữa là hình dạng tấm giấy da. Khuôn khổ như vậy là để ghi chép một tài liệu gì cần được nhớ lâu và giữ gìn cẩn thận.”

Tôi nói: “Nhưng anh bảo cái sọ không có ở trên tấm giấy da khi anh vẽ con bọ hung cơ mà. Vậy tại sao cái sọ lại có liên quan với cái xuồng nát?”

“Nó chỉ hiện ra trên tấm giấy da (chỉ có ông Trời mới hiểu nổi làm sao), mãi sau khi anh về. Ấy, bí mật là ở chỗ đó, tuy nhiên tôi tìm ra giải đáp cũng chẳng khó khăn mấy. Việc làm của tôi tiến hành từng bước rất vững chắc và đã đem lại một kết quả duy nhất.

“Tôi đã chú ý nhìn anh trong khi anh ngắm tấm giấy da. Không phải chính anh đã vẽ cái sọ. Cũng chẳng có người nào khác đã vẽ. Ấy thế mà cái sọ lại hiện ra trên tấm giấy da. Nghĩ đến điều này tôi cố nhớ lại, và đã nhớ rõ, mọi sự đã xảy ra trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó. Tiết trời hôm đó lạnh (thật là hên quá!) và có lửa cháy. Tôi ấm nên ngồi gần cái bàn, còn anh thì ngồi gần lò sưởi. Khi tôi trao tấm giấy da vào tay anh thì con chó nhảy lên vai anh. Anh lấy tay trái ngăn nó lại, trong khi tay phải của anh cầm tấm giấy da và để xuống giữa hai đầu gối và gần ngọn lửa. Đã có lúc tôi tưởng ngọn lửa bén vào tấm giấy da nên tôi định bảo anh, nhưng anh đã rụt lại.

“Khi nghĩ đến những sự việc này, tôi thấy chắc chắn rằng hơi nóng đã làm cái sọ hiện ra. Hẳn anh biết rõ rằng hiện nay và hàng mấy thế kỷ qua đã có những chất được dùng để viết trên giấy hay giấy da để người ta chỉ nhìn thấy chữ viết khi tờ giấy thường hay giấy da được hơ nóng. Khi tấm giấy da nguội thì chữ sẽ biến mất, nhưng lại hiện ra khi hơ nóng.

“Rồi tôi ngắm cẩn thận cái đầu lâu. Hình vẽ có những chỗ rõ và có những chỗ mờ. Tác dụng của hơi nóng chưa đủ. Tôi lập tức nhóm một ngọn lửa khác rồi cầm tấm giấy da hơ gần lửa. Một lúc sau tôi trông thấy hình vẽ một con vật. Tôi chắc chắn rằng con vật đó là một con dê con (kid). Có lẽ anh đã được nghe nói về Đại úy Kidd, tên hải tặc trứ danh. Tôi chắc chắn rằng đây là lối ký tên của hắn. Cái đầu lâu ở phía trên tấm giấy da, và con dê con ở phía dưới cùng. Khoảng giữa không có gì cả.”

“Tôi chắc rằng anh hy vọng có một bức thư ở quãng giữa.”

“Phải. Và tôi cảm thấy có một sự gì rất tốt đẹp đến với tôi. Tôi không biết tại sao. Có lẽ tôi mong ước hơn là tôi tin tưởng như vậy. Tôi có ý nghĩ như vậy vì lão Jupiter bảo rằng con bọ hung bằng vàng. Thật lạ lùng, tất cả việc này lại xảy ra trong một ngày khi chúng ta cần lửa sưởi! Nếu không có lửa, nếu con chó không đến đúng lúc, thì tôi sẽ không khi nào tìm thấy của cải!”

Tôi nói: “Nói tiếp đi! Tôi muốn nghe nốt câu chuyện này quá.”

“Dĩ nhiên là anh đã nghe hàng ngàn chuyện mà người ta kể về việc lão Kidd và đồng bọn của hắn đã bí mật chôn của cải tại một nơi dọc bờ biển Đại Tây Dương thuộc miền này. Nhưng chuyện này có phần xác thực. Và nếu lão Kidd đã trở lại để lấy của thì những câu chuyện phải được kể khác hẳn.

Nhưng ta chỉ nghe nói toàn những chuyện về những kẻ đi tìm của cải chứ không phải về những kẻ tìm thấy của cải. Có sự gì đã cản trở lão Kidd trở lại lấy số châu báu của hắn. Bọn thủ hạ của hắn biết vậy nên chúng cố tìm số tiền đó để lấy đi nhưng không thấy. Những câu chuyện đều bắt đầu như vậy. Có khi nào anh nghe nói tới việc đào được những của cải quan trọng không?”

“Không khi nào”.

“Nhưng lão Kidd có một số châu báu kếch sù. Điều đó ai cũng biết. Tôi nói với anh rằng tôi hy vọng, và hầu như chắc chắn, rằng miếng giấy da là tài liệu ghi chỗ hắn chôn của cải, đã bị thất lạc.”

“Sau đó anh làm gì?”

“Tôi lại để tấm giấy da gần lửa nhưng không có gì hiện ra cả. Tôi quyết định rửa nó. Tôi nhúng nó vào nước nóng rồi để vào một cái hộp mà tôi có thể đặt thẳng trên lửa. Mấy phút sau tôi mừng quá vì thấy miếng giấy da lấm chấm mấy chỗ như hiện ra những chữ số. Tôi lại để nó lên lửa một phút nữa. Rồi nó y như thế này, anh xem đây”.

Nói đến đây William Legrand đưa cho tôi xem tấm giấy da mà anh đã hơ lại. Tôi trông thấy những giòng sau đây viết bằng mực đỏ ở quãng giữa cái đầu lâu và con dê con:

“53‡‡†305))6*;4826)4‡)4‡);806*;48†8¶60))85;1‡);:‡

*8†83(88)5*†;46(;88*96*?;Cool*‡(;485);5*†2:*‡(;4956*

2(5*—4)8¶8*;4069285);)6†8)4‡‡;1(‡9;48081;8:8‡1;4

8†85;4)485†528806*81(‡9;48;(88;4(‡?34;48)4‡;161;:

188;‡?;”

Tôi nói: “Nhưng tôi vẫn chẳng hiểu chút nào cả”.

William Legrand nói: “Ấy thế mà lại dễ tìm ra giải đáp hơn là anh tưởng. Những chữ số này có một ý nghĩa; chúng hợp thành một lối chữ gọi là mật mã. Mỗi số và mỗi dấu phẩy tiêu biểu cho một chữ. Theo như tôi biết về lão Kidd, tôi không tin hắn có thể nghĩ ra một lối mật mã mà tôi không tìm nổi cách giải.”

“Thế thật anh tìm ra được cách giải đáp đấy à?”

“Dễ ợt. Tôi đã tìm ra giải đáp cho những vấn đề khó khăn gấp hàng ngàn lần. Tôi thích làm những việc như vậy. Tôi không tin rằng trí óc con người có thể nghĩ ra một vấn đề mà chính trí óc con người lại không thể giải nổi. Thực vậy, ngay sau khi tôi đọc được các chữ số trên tấm giấy da, tôi biết rằng tìm ra ý nghĩa của nó là việc rất dễ.

“Vấn đề đầu tiên tôi phải làm là tìm xem bản viết này bằng tiếng Tây Ban Nha hay tiếng Pháp hay tiếng Anh. Thường thường cách duy nhất là thử lần lượt dò ra bằng từng thứ ngôn ngữ. Nhưng đây tôi tìm ra giải đáp theo kiểu chữ ký tên trên tấm giấy da, Hình vẽ con dê con (kid) là tượng trưng cho tên Kidd. Chữ này chỉ có nghĩa trong tiếng Anh. Vì vậy tôi biết mật mã này viết bằng tiếng Anh.

“Anh thấy các số và ký hiệu không được chia thành chữ. Nếu được phân ra như vậy thì mật mã này còn dễ đọc hơn. Nếu vậy tôi đã bắt đầu bằng cách phân tích những chữ ngắn hơn. Nếu thấy chữ nào chỉ có một mẫu tự (như a hay I *) thì tôi chắc chắn sẽ thành công. Bởi vậy bước đầu của tôi là tìm chữ cái nào thường thấy nhiều hơn những chữ khác, v.v…

Anh xem kết quả ở đây.” Anh đưa cho tôi một tấm giấy tôi đọc như sau:

Số 8 có 33 lần

Dấu ; có 26 lần

Số 4 có 19 lần

Dấu ‡ ) có 16 lần

Dấu * có 13 lần

Số 5 có 12 lần

Số 6 có 11 lần

Dấu † 1 có 8 lần

Số 0 có 6 lần

Số 9 và 2 có 5 lần

Dấu :3 có 4 lần

Dấu ? có 3 lần

Dấu ¶ có 2 lần

Dấu -. có 1 lần

“Nay, mẫu tự e là chữ thường gặp nhiều nhất trong tiếng Anh. Sau mẫu tự này là những mẫu tự dưới đây: a o i d h n r s t u y c f g m w b k p q x z

“Tuy nhiên mẫu tự e được dùng nhiều đến nỗi nếu anh chỉ ghép một vài chữ với nhau, thì chắc chắn cũng đã thấy rằng nó là mẫu tự được dùng nhiều nhất. Vì thế, ngay khi mới bắt đầu, chúng ta đã có một căn bản để suy tính chứ không phải chỉ phỏng đoán mà thôi. Chúng ta hãy bắt đầu cho rằng số 8 là mẫu tự e. Muốn cho chắc chắn, chúng ta hãy xem có phải số 8 thường được dùng kép không – vì mẫu tự e thường được dùng kép trong Anh ngữ, trong những chữ meet, deep, agree, seen, been. Ở đây ta thấy mẫu tự e đi đôi đến năm lần, mặc dầu bản mật mã này viết ngắn.

“Rồi, trong hết thảy mọi chữ trong tiếng Anh chỉ có chữ the là thông dụng nhất. Vì vậy, chúng ta hãy tìm xem có ba số hay dấu được viết theo thứ tự giống nhau mà số cuối là 8 được dùng nhiều lần. Nếu chúng ta tìm thấy như vậy thì có lẽ ba số hay dấu đó tiêu biểu cho chữ the. Khi xem, ta tìm thấy nhóm chữ số ; 48. Như vậy ta có thể giả định rằng dấu ; là t, 4 là h, và 8 là e. Chúng ta đã tiến được một bước dài.

“Bây giờ chúng ta đã biết một chữ, và chúng ta cũng biết một điều khác rất quan trọng. Chúng ta đã tìm ra chữ đầu và chữ cuối cùng của những tiếng khác. Ta hãy nhìn nhóm dấu ở cạnh nhóm ;48 – gần cuối bản mật mã. Chữ sau bắt đầu bằng dấu ; và trong sáu mẫu tự theo sau, có năm mẫu tự chúng ta đã biết rồi. Chúng ta hãy viết ra bằng cách dùng những mẫu tự mà ta biết và chừa ra một khoảng trống cho chữ ta chưa biết: t eeth.

“Đến đây ta có thể nói ngay rằng hai mẫu tự th không hợp vào với mẫu tự nào bắt đầu bằng mẫu tự t vì khi thử điền hết thảy các mẫu tự của Anh ngữ vào khoảng trống, chúng ta thấy rằng không có chữ nào có thể điền được mẫu tự th vào. Như vậy ta có: t ee và, thử điền hết mẫu tự nọ đến mẫu tự kia như trước, ta gặp chữ tree, là chữ duy nhất có thể đọc được. Nay ta có thêm một mẫu tự nữa, đó là r, mà trong bản mật mã dùng dấu (. Ta cũng có hai chữ cùng đi với nhau: the tree (cái cây).

“Sau những chữ này, ta lại thấy nhóm ; 48. Nay ta nhìn những chữ đứng ở đằng trước nhóm đó. Ta có đoạn này: the tree; 4 ( §? 34 the hay là dùng những mẫu tự mà ta biết thì thấy: the tree the §? 34 the.

“Thế rồi! nếu ta viết giòng đó như sau: the tree thr… h the. Ta hiểu ngay là chữ through (xuyên qua). Ta cũng đã khám phá được ba chữ mới 0, u và g mà bản mật mã dùng các dấu § ? và 3.

“Bây giờ tìm kỹ trong bản mật mã những top chữ đã viết thì ta thấy sau đoạn đầu một chút những chữ như sau: 83(88 tức là egree. Như vậy rõ ràng là đoạn cuối của chữ degree (độ), và ta có thêm một mẫu tự nữa, đó là d, được thay bằng dấu +.

“Cách tiếng degree bốn mẫu tự ta thấy tốp này: ;46 (; 88°. Dựa theo những mẫu tự đã biết, ta có thể viết tốp đó như sau: th, rtee.

“Ta thấy ngay tốp mẫu tự này là chữ thirteen 13 và ta kiếm ra hai mẫu tự mới, đó là i và n, mà bản mật mã dùng dấu 6 và °.

“Bây giờ ta hãy trở lại phần đầu bản mật mã, ta thấy tốp này: 53 § § +. Làm như trước ta thấy: .good. Và ta có thể chắc chắn rằng chữ thứ nhất là A, và hai tiếng đầu là A good.

“Để việc làm của chúng ta có thứ tự, bây giờ là lúc ta phải kê những chữ đã tìm ra thành một bản như dưới đây:

5 là a, 6 là i

+ là d, o là n

8 là e, § là o

3 là g, ( là r

4 là h, ; là t

“Như vậy chúng ta có mười chữ cái quan trọng nhất trong bản mật mã. Tôi không cần phải nói cho anh biết phần cuối của việc tôi đã làm. Tôi đã nói khá nhiều để anh biết rằng những loại mật mã như kiểu này rất dễ hiểu. Anh biết nó được thành lập như thế nào rồi. Bản mật mã ở trước mắt chúng ta đây rất giản dị. Nay tôi giải đáp hết bản mật mã trên tấm giấy da như dưới đây:

A good glass in the bishop’s hostel in the devil’s seat twenty one degrees and thirteen minutes northeast and by north main branch seventh limb east side shoot from the left eye of the death’s head a beeline from the tree through the shot fifty feet out. (Một cái ly tốt ở lữ quán của đức Giám mục nơi cái ghế của con quỷ hai mươi mốt độ và mười ba phút hướng Đông Bắc và phía Bắc cành cái nhánh thứ bảy về phía Đông ngắm từ mắt trái cái đầu người chết một đường thẳng từ cái cây qua tầm xa mười lăm thước).

Tôi nói: “Những điều bí ẩn này vẫn còn khó hiểu quá. Làm sao có thể biết được nghĩa những chữ lẩm cẩm ‘những cái ghế của con quỷ, những cái đầu lâu, và những lữ quán của đức Giám mục?’”

William Legrand trả lời: “Tôi phải công nhận rằng nội dung bản này không phải dễ hiểu gì? Tôi đã bắt đầu chia những chữ thành từng đoạn như kẻ viết bản mật mã này đã cố ý chia ra như vậy.”

“Nhưng anh chia ra bằng cách nào?”

“Tôi biết rằng kẻ viết bản mật mã thường viết những câu liền với nhau để không ai có thể đọc được bản mật mã. Một kẻ kém học thức lại hay làm thái quá. Khi đến quãng nghỉ trong bản mật mã, hắn càng viết các dấu thật sát nhau. Nếu anh nhìn tấm giấy da, anh có thể trông thấy ngay những chỗ có dấu đặt sát nhau hơn thường lệ. Theo ý nghĩ này, tôi viết rõ những chữ như sau:

A good glass in the Bishop’s hostel in the Devil’s seat – twenty one degrees and thirteen minutes – northeast and by north – main branch seventh limb east side – shoot from the left eye of the death’s head – a bee line from the tree through the shot fifty feet out. (Một chiếc ly tốt ở lữ quán của đức Giám mục nơi cái ghế của con quỷ – hai mươi mốt độ và mười ba phút – hướng Đông Bắc và phía Bắc – cành cái nhánh thứ bảy về phía Đông – ngắm từ mắt trái cái đầu người chết – một đường thẳng từ cái cây qua tầm xa mười lăm thước).”

Tôi nói: “Tôi vẫn chẳng hiểu gì cả.”

William Legrand trả lời: “Tôi cũng không hiểu bí mật này mất mấy hôm. Trong thời gian đó tôi hỏi khắp nơi gần đảo Sullivan’s về một căn nhà mang tên là Lữ Quán đức Giám Mục (Bishop’s Hotel), hay Quán Cơm đức Giám mục (Bishop’s House) và dĩ nhiên tôi bỏ chữ hostel thuộc về cổ ngữ, nhưng không có kết quả. Khi tôi sắp sửa đi xa đảo Sullivan’s hơn nữa để hỏi dò thì tôi chợt nghĩ đến một giòng họ lâu đời có tên là Bessop. Từ ngày xưa giòng họ này có một tòa nhà cổ rất lớn cách xa sáu cây số về phía Bắc đảo này. Tôi tới hỏi những người da đen trong vùng. Cuối cùng một trong những bà cụ già nhất cho biết rằng bà ta đã nghe nói tới một chỗ gọi là Lâu Đài Bessop, và bà có thể đưa tôi đến đấy. Nhưng nó không phải là lâu đài hay dinh thự, và cũng không phải là lữ quán cho du khách, hay khách sạn, hay quán cơm, mà là một khối đá cao.

“Tôi hứa trả công rất hậu nên bà ta đưa tôi đến. Chỗ đó rất dễ tìm thấy. Tôi cho bà ta về nhà rồi quan sát tứ phía. Chỗ đó có nhiều tảng đá, có một tảng cao đặc biệt. Tôi trèo lên đỉnh tảng đá rồi không biết phải làm gì nữa. Khi đang đứng nghỉ, tôi trông thấy một chỗ trong tảng đá dưới nơi tôi đang đứng. Trông nó rất giống một cái ghế, mặt phiến đá sâu xuống độ bốn mươi phân và rộng không quá ba mươi phân. Tôi chắc chắn chỗ này là cái ghế của con quỷ, thế là tôi bắt đầu tìm ra giải đáp cho vấn đề bí mật này.

“Tôi biết rằng cái “ly tốt” chẳng qua chỉ là một cái kính viễn vọng; vì các thủy thủ phải có một cái kính viễn vọng để họ có thể nhìn được những nơi rất xa ở trên mặt biển, và bao giờ họ cũng gọi kính viễn vọng là ‘glass.’ Đến đây tôi thấy ngay rằng cần phải dùng một cái kính viễn vọng. Còn những chữ ”hai mươi mốt độ và mười ba phút”, và ”Đông Bắc và phía Bắc” là những lời chỉ dẫn để ngắm kính viễn vọng được đúng hướng. Tôi vội vàng trở về lấy kính viễn vọng rồi trở lại tảng đá.

Tôi bước xuống cái ghế thì thấy chỉ có thể ngồi được một thế. Việc này chứng tỏ rằng tôi đã nghĩ đúng. Tôi xử dụng kính viễn vọng, nhìn về hướng ”Đông Bắc và phía Bắc”, nhấc lên tới tầm mà tôi ước lượng độ ”hai mươi mốt độ và mười ba phút” phía trên chân trời. Tôi nhích lên nhích xuống kính viễn vọng rất cẩn thận cho đến khi tôi thấy một khoảng trống tròn ở gần ngọn một cái cây lớn, cao hơn hẳn các cây ở gần nó. Giữa khoảng trống này tôi trông thấy một chấm trắng, nhưng mới đầu tôi không biết là cái gì. Bây giờ tôi xử dụng kính viễn vọng hết sức cẩn thận, kéo nó dài ra rồi lại thu ngắn lại cho đến khi tôi nhìn thấy cái chấm trắng rất rõ. Đó là cái sọ người.

“Khi tìm ra cái sọ tôi yên trí là đã giải đáp hoàn toàn ”Cành cái, nhánh thứ bảy, phía Đông” phải có nghĩa là vị trí cái sọ ở trên cây. “Ngắm từ mắt trái cái đầu người chết” cũng có thể được giải thích bằng một cách duy nhất, nếu nó có liên quan đến của cải chôn dưới đất. Ý câu này là thả một vật gì từ mắt trái cái sọ xuống đất. Còn đường thẳng (beeline – bee: con ong; line: đường) thì anh biết rằng con ong là một con côn trùng đánh dấu chiều hướng bằng cách bay thẳng. Như vậy, giai đoạn sau là phải đo từ cái cây ngang qua chỗ vật thả xuống đến một điểm cách thân cây 15 thước. Vì vậy một điểm nhỏ hẹp đã được chỉ định rất rõ. Tôi nghĩ thầm, có thể một vật gì quý giá đã được chôn ở dưới đất tại chỗ đó.”

Tôi nói: “Anh đã giải thích rất rõ ràng. Anh làm gì sau khi đã rời khỏi Lữ Quán của đức Giám mục?”

“Tôi về nhà. Sau khi tôi đã rời khỏi phiến đá ”Cái ghế của con quỷ” dù xoay thế nào tôi cũng không thể trông thấy “lỗ hổng ở giữa vòm cây.” Sự này đối với tôi là phần lạ lùng nhất trong toàn thể việc này.

“Hôm ấy lão Jupiter đã đi với tôi. Ngày hôm sau tôi dậy rất sớm và đi một mình để tìm cái cây. Tôi đã tìm ra được cái cây đó. Còn phần cuối câu chuyện thì tôi chắc anh cũng hiểu rõ như tôi.”

Tôi nói: “Có phải anh không tìm thấy chỗ chôn của cải ngay lần đầu tiên mà chúng ta đào vì lão Jupiter dùng nhầm mắt của cái sọ?”

“Đúng thế. Nếu tôi đã không chắc rằng vàng ở một chỗ nào gần cái cây thì việc đào đó chỉ là công dã tràng”.

“Có phải lão Kidd đã nghĩ đến việc dùng cái sọ chỉ vì cái sọ là biểu hiệu của hải tặc?”

“Có lẽ. Nhưng tôi vẫn nghĩ rằng dùng cái sọ là khôn lắm. Nếu không phải là màu trắng thì không thể nào nhìn thấy từ ”Cái ghế của con quỷ”. Không có thứ gì có thể mỗi ngày một trở nên trắng hơn bằng cái sọ người nếu phải để lộ thiên hết năm này qua năm khác trong thời tiết thay đổi?”

“Nhưng anh dùng con bọ hung vàng! Tại sao anh bảo lão Jupiter thả nó từ cái sọ xuống đất?”

“Thú thực, tôi rất tức vì anh cứ tưởng rằng tôi loạn óc. Tôi định làm một việc gì để anh phải nghĩ ngợi. Dĩ nhiên sức nặng của con bọ hung cũng rất có ích”.

“Tôi hiểu rồi. Bây giờ tôi còn một câu hỏi nữa. Chúng ta nghĩ sao về những cái xương người thấy ở trên đống vàng?”

“Đây là một câu hỏi mà tôi không thể trả lời hơn anh được. Tuy nhiên hình như chỉ có một cách giải thích duy nhất. Chắc chắn là lão Kidd cần phải có người giúp việc chôn của cải xuống đất cho hắn. Nhưng khi việc này gần xong, có thể hắn không muốn một người nào khác biết bí mật ấy. Có lẽ chỉ cần hai nhát kiếm là đủ trong khi người giúp việc đang mải đào đất; có lẽ mười hay mười hai nhát cũng nên – ai biết được?”

_________________
Cầu cho Ukraine sớm có Hoà Bình.
LDN

LDN


Back to top Go down

Thumb up Re: Sách

Post by LDN Tue Jan 24, 2023 5:53 am

VnExpress

Edgar Poe - ông tổ của nền văn học trinh thám

Theo đánh giá của giới phê bình văn học, thế kỷ XIX là thế kỷ mở đầu của thể loại văn học trinh thám và nhà văn Mỹ Edgar Allan Poe được coi là ông tổ khai sáng cho dòng văn học kỳ vĩ này.
Quốc Anh -

Edgar Allan Poe sinh năm 1809 tại Boston, trong một gia đình diễn viên. Suốt bốn mươi năm ngắn ngủi của cuộc đời mình, Poe đã nhiều lần phải đối mặt với những cái chết bi thảm xảy đến với người thân. Bố mẹ, rồi người vợ thân yêu của ông lần lượt chết bởi bệnh lao phổi. Điều này lý giải tại sao ông thường bị ám ảnh và nói nhiều về cái chết như một nhà phê bình lại đưa ra nhận xét: “Đề tài trung tâm trong các truyện của ông là nỗi buồn, tình yêu và cái chết”.

Bản thân Edgar Poe cũng từ giã cuộc đời vào năm 1849, tại Baltimore, trong một bối cảnh rất đỗi bí ẩn. Theo hồ sơ bệnh án, Edgar Poe được đưa vào bệnh viện trong trạng thái bất tỉnh. Sau đó, ông có hồi tỉnh, người ra nhiều mồ hôi, bị chứng ảo giác và thường cãi nhau với một người tưởng tượng. Tiếp đến là giai đoạn ông bị mất trí nhớ, cấm khẩu rồi tắt thở.

Theo giả thiết của một nhà nghiên cứu thuộc Trung tâm Y tế Trường đại học Maryland (Mỹ) thì nhiều khả năng Edgar Poe đã bị một con vật điên (chó hoặc mèo) cắn, dẫn đến tử vong.

Một kiệt tác làm tác giả bị nghi oan

Những ai đã đọc Edgar Poe hẳn đều không thể không nhớ tới một tác phẩm hết sức độc đáo (có thể xem là độc đáo nhất) của ông, đó là truyện Bí mật của Marie Roger. Truyện dựa trên một vụ án có thật xảy ra vào mùa hè năm 1841 ở, bang New Jersey (Mỹ). Trên con sông Hudson, người ta vớt được thi thể một phụ nữ trẻ. Cơ quan điều tra đã xác định nạn nhân chính là cô gái 21 tuổi Mary Roger, cư dân thành phố New York, vốn là nhân viên của một cửa hiệu thuốc lá.

Thời gian xảy ra vụ án, Edgar Poe đang là biên tập viên văn học của tờ tạp chí Grew của bang Philadelphia, và trong con mắt độc giả, ông đã là một cây bút khá nổi tiếng với một bộ hợp tuyển thơ - truyện gồm 6 tập. Ông đang có ý định thu thập tư liệu để hoàn tất tác phẩm trinh thám Vụ giết người ở phố Morgue, cho nên nhân cái chết của Mary Roger, ông lập tức vào cuộc.

Truyện ngắn Bí mật của Marie Roger xuất hiện liên tiếp trên 3 số tạp chí dành cho phụ nữ từ cuối năm 1842 đến đầu 1843. Trong truyện Mary Roger được gọi chệch đi là Marie Roger. Thành phố New York được chuyển thành Paris, và con sông Hudson hung dữ thì được biến thành dòng sông Seine thơ mộng. Tác giả chỉ ra cho độc giả thấy hung thủ là một sĩ quan hải quân có nước da bánh mật. Trước khi bị sát hại ba năm, chính Mary đã theo người đàn ông này vắng nhà tới cả tháng. Và truyện dừng ở đây. Tác giả không hề cho biết tên của đối tượng nói trên.

Truyện ngắn Bí mật của Marie Roger đã khiến dư luận rất quan tâm. Nhiều ý kiến còn “đồng nhất” tác giả truyện ngắn với hung thủ. Theo ý những người này thì Poe tuy sống ở Philadelphia nhưng vẫn thường xuyên có mặt ở New York nên không loại trừ khả năng ông từng nhiều lần đến mua thuốc lá ở cửa hiệu mà Mary Roger đang làm thuê và đã buông lời tán tỉnh cô, nhưng không được đền đáp.

Một yếu tố mà dư luận tìm cớ vin vào, ấy là việc trong truyện, Edgar Poe mập mờ cho biết ông đã lần ra manh mối hung thủ. Không những vậy, nhà văn còn viết rõ rằng “hung thủ có nước da bánh mật”, mà đấy lại là một đặc điểm dễ nhận thấy của ông (Edgar Poe cũng có nước da ngăm đen).

Rất may tất cả những điều trên chỉ là những phỏng đoán cực đoan. Thực tế, căn cứ vào những lá thư Edgar Poe gửi cho một người bạn ngày 4/6/1842, ta có thể thấy ông kỳ công như thế nào trong việc thu thập tài liệu phục vụ cho việc khám phá cái chết của cô gái. Và ở khía cạnh này, ông chẳng khác gì một thám tử tư.

Xứng danh bậc thày

Sinh thời, Edgar Poe luôn bộc lộ là một người mơ mộng và đa tài. Ông viết nhiều thể loại, từ phê bình, lý luận đến thơ, truyện... Tác phẩm của ông thể hiện vốn học vấn uyên bác trên nhiều lĩnh vực như tâm lý học, tội phạm học, kiến trúc, hội họa, âm nhạc, y học, sinh học, hóa học...

Ngay truyện của ông cũng có thể phân thành nhiều loại: Truyện rùng rợn (Con mèo đen, Vở vũ kịch tử thần đỏ), truyện hoang đường viễn tưởng (Chuyện kể trên những vách núi lởm chởm), truyện trinh thám (Vụ giết người ở phố Morgue, Mi cũng là một con người?), truyện đả kích hài hước (Con quỷ trên gác chuông, Cặp kính). Không dưng mà các nhà nghiên cứu văn học đều thống nhất trong việc khẳng định Edgar Poe không chỉ là “ông tổ” của thể loại văn học trinh thám mà còn là người khai mở cho thể loại truyện kinh dị và truyện khoa học viễn tưởng.

Trong mảng truyện trinh thám, đóng góp lớn nhất của Edgar Poe là ông đã sáng tạo ra nhân vật Dupin, một người lập dị, sống đơn độc, mặc dù chẳng phải là cảnh sát hay thám tử tư, song bằng phương pháp phân tích, suy luận rất độc đáo ông đã phanh phui được nhiều hành động tội ác.

Trở lại với bộ ba truyện ngắn Vụ giết người ở phố Morgue, Bí mật của Marie Roger và Bức thư bị đánh cắp, tác giả đã cho Dupin kết hợp lời khai của các nhân chứng với các thông tin ông ta thu lượm được trên báo chí, từ đó dựng lên các giả thuyết về tội phạm, khiến người đọc bị chinh phục.

Có thể nói, chính phương pháp phân tích, diễn giải kết hợp với óc quan sát nhạy bén, rồi cách xây dựng nhân vật phá án là mẫu người lập dị, có cách suy luận về nhân tình thế thái sắc sảo... sau này đã trở thành một môtíp quen thuộc của các bậc kỳ tài tên tuổi lừng lẫy như Conan Doyle (với nhân vật thám tử Sherlock Holmes), Agatha Christie (với nhân vật Hercule Poirot)...

Chính Conan Doyle, trong tập sách Hồi tưởng về những cuộc phiêu lưu đã thổ lộ: "Gaboriau (tên một nhà văn Pháp nổi tiếng thế kỷ XIX, cha đẻ của nhân vật cảnh sát lừng danh Lecoq) đã thu hút tôi bằng nét tinh tế của những âm mưu được ông khéo léo đan kết, còn vị thám tử tuyệt vời Dupin của Edgar Poe đã từng là một trong những nhân vật tôi yêu quý nhất thời niên thiếu”.

Ở Việt Nam, cách đây hơn bảy chục năm, Edgar Poe đã được biết đến (chủ yếu qua bản Pháp văn) và ít nhiều có ảnh hưởng tới sáng tác của một số cây bút thành danh thời ấy. Năm 1989, NXB Lao Động cũng đã cho in tập truyện dịch của ông, lấy tên là Truyện kinh dị, tất cả gồm 5 truyện, 134 trang in. Và năm 1997, NXB Công an nhân dân cũng đã cho in tập truyện Bức chân dung hình ô van dày trên 200 trang của Edgar Poe.

Cũng cần nói thêm là, tuy tài năng kiệt xuất vậy, song sinh thời Edgar Poe không được hưởng niềm vinh quang trọn vẹn. Nếu như cả châu Âu với những bậc cự phách nhất từng nghiêng mình chào đón ông thì nghịch lý thay, hầu như nước Mỹ lại ngoảnh mặt với ông - khi ông còn sống. Thật đúng như Pautovski đã nhận định một cách chua chát: “Đời ông lúc sống cũng như lúc chết, không lúc nào không chứng thực cái sự thật là xã hội cũ bao giờ cũng tàn nhẫn và bất công đối với những người có tài năng lớn và những tâm hồn lớn”.

Nguồn: Văn nghệ công an


Last edited by LDN on Wed Jan 25, 2023 2:53 pm; edited 2 times in total

_________________
Cầu cho Ukraine sớm có Hoà Bình.
LDN

LDN


Back to top Go down

Thumb up Re: Sách

Post by LDN Tue Jan 24, 2023 5:59 am

Người tiên phong của văn học Mỹ

Vannghequandoi

Edgar Allan Poe được coi như một trong những nhà văn đã đặt nền móng cho văn chương Mĩ, có nhiều ảnh hưởng đến các tác giả cùng thời cũng như sau này. Trong di sản của ông, nổi bật nhất là các mảng truyện ngắn kinh dị, phê bình văn học cũng như thơ ca. Nhưng ít ai biết ông cũng là một nhà viết truyện trinh thám “thật sự”, và một trong những nhân vật thám tử của ông đã “mở đường” cho các tiểu thuyết trinh thám-phá án sau này.

Mới đây, tuyển tập truyện kinh dị - siêu nhiên Con mèo đen cũng như bộ triology tác phẩm về viên thám tử Dupin: Vụ án mạng đường Morgue đã ra mắt bạn đọc Việt Nam. Cùng với tác phẩm phê bình đã được chuyển ngữ trước đó, lần ra mắt này đã làm trọn vẹn hơn di sản của một nhà văn lớn, người có ảnh hưởng sâu rộng không chỉ trong văn chương châu Âu thế kỉ 19 mà còn rộng khắp sau này.

NGƯỜI THỔI HỒN VÀO TÍNH SIÊU NHIÊN

Cho đến ngày nay, nhắc đến E.A.Poe. người ta vẫn hay gắn ông với hình tượng chú mèo đen như một truyện ngắn cùng tên. Là người thổi hồn vào tính siêu nhiên, các nhân vật của Poe dường như vẫn luôn thường trực một nỗi ám ảnh, từ đó nảy sinh ra những ảo giác cũng như nỗi sợ dần biến đổi họ. Những truyện ngắn siêu nhiên của ông phần nào chất chứa cảm quan cá nhân, và vẫn có thể giải đáp một cách logic. Từ đó nâng thể loại này lên một tầm cao mới, khác xa với truyện kinh dị - dân gian thông thường.

Lúc còn sinh thời, Poe nghiện rượu cũng như ma túy. Sau cái chết vì bệnh của người vợ, cộng với đói nghèo và chứng rối loạn lo âu, tất cả đã biến ông thành một người trầm cảm, điên loạn trầm trọng. Không ít lần ông đã cố tự sát, và vào năm 1849, ông đã mất tích 5 ngày bí ẩn, để rồi cuối cùng không may như Agatha Christine, ông đã qua đời vài ngày sau đó, với nguyên nhân cái chết là “viêm não” – từ chỉ cái chết không rõ nguyên nhân vào lúc đương thời.

Có lẽ cũng vì lẽ đó nên những tác phẩm kinh dị - siêu thực của ông thiên về tinh thần hơn là hành động về mặt thể xác. Xuyên suốt những truyện ngắn này là những cá thể bị ám ảnh bởi nỗi sợ cũng như hoài nghi một điều gì đó, để cuối cùng khép lại vẫn là cái chết luôn chờ đón họ. Có những tác phẩm hiện thực như Sự sụp đổ của nhà Usher, Bức chân dung hình bầu dục hay Chôn sống... Ngược lại cũng có những sáng tác thiên về tâm lí, đậm đặc màu sắc siêu thực, như Mặt nạ của Tử thần đỏ, Thùng rượu Amontillado hay Sự thật về vụ Valdermar…

Các nhân vật này vẫn thường mấp mé tình trạng tinh thần sa sút và đầy sầu muộn mà không điều gì có thể giảm bớt. Trong truyện về nhà Usher, người hậu duệ duy nhất của dòng họ này đã thành nô lệ của nỗi sợ bất thường, vì tính di truyền của chứng bắt thế cũng như bối cảnh dinh thự mà anh ta sống. Trong khi đó với truyện ngắn nổi tiếng Con mèo đen hay Trái tim kể tội, cả hai nhân vật chính chỉ vì một nỗi ám ảnh không thể lí giải, đã bị phá hủy từ trong tâm tính đến tận gốc rễ, từ đó hình thành nên một sự tha hóa như là tất yếu không thể giải thích.

Không khí các tác phẩm của Poe có thể gây sợ về các mô tả gothic như trong Sự sụp đổ của nhà Usher, Mặt nạ của Tử thần Đỏ… với những tòa nhà mục ruỗng, những hầm rượu ẩm ướt, chốn lâu đài xa hoa… hoặc là e sợ từ trong hành động và những tội ác không hề ghê tay. Poe tiến sau vào địa hạt tâm lý bằng thứ văn miêu tả một cách sâu sắc hiện tồn giữa nỗi sợ và các yếu tố logic, khoa học có thể lý giải.

Như thể câu chuyện về chứng bắt thế hay giữ nguyên tư thế có thể giải thích cho câu chuyện ma kinh khủng ở nhà Usher, hay việc thôi miên ở dạng tiềm thức có thể lý giải cho truyện Sự thật về vụ việc Valdermar. Poe đem đến một sự tiến bộ trong cấu trúc truyện, phản ánh một cách chân thật việc thương tổn tinh thần có thể hủy hoại con người đến như thế nào, khi đưa họ đến những hành động tha hóa và không nhân tính tưởng như chỉ có ma quỷ làm được, từ đó cảnh báo một cách rõ ràng những bất ổn tâm trí.

Cũng như Le Fanu, Poe có sự tìm tỏi về những biện giải tri giác, mộng ảo, hệ thần kinh cũng như nỗi sợ nguyên thủy để làm giàu thêm cho các tác phẩm của mình. Từ đó làm nên một nét nổi bật trong các truyện ngắn kinh dị của ông. Thông qua đó, ảnh hưởng của sức khỏe tinh thần cùng những nguyên nhân và hậu quả được đưa ra ánh sáng một cách rõ ràng, trong một cõi tâm lý phức tạp có phần tiến bộ ở thời điểm này.

Tính nghịch dị cũng là đặc trưng rất đáng chú ý trong những tác phẩm siêu nhiên của ông. Thể hiện ở một cốt truyện bình lặng với nhịp diễn tiến từ từ, càng cuối tác phẩm, mọi chuyện dâng lên cao trào và rồi xuất hiện chi tiết “bản lề” vô cùng ớn lạnh và đầy độc đáo. Độc giả thấy được điều này ở Con mèo đen, Trái tim thú tội… Và cũng có thể chính từ nơi đây, những điểm độc đáo trong văn chương của Yoko Ogawa, Flanner O’Connor… đã được xác lập.

TRUYỆN TRINH THÁM “THẬT SỰ” ĐẦU TIÊN

Arthur Conan Doyle, cha đẻ của Sherlock Holmes đã từng nói rằng: “Truyện trinh thám đã ở đâu, cho tới khi được Poe thổi vào đó hơi thở của sự sống?”. Và cho đến hiện tại, Poe vẫn được coi như một trong những tác giả đầu tiên viết truyện “trinh thám” thật sự, mở đường cho thể loại này cũng như ảnh hưởng đến những tác phẩm vô cùng giá trị qua bao thời đại.

Hai tác phẩm kinh dị và trinh thám - phá án của Edgar Allan Poe.
Có lẽ học từ những nét đặc trưng của Poe, mà những nhân vật thám tử trong các series phá án nổi tiếng thế giới đều có một điểm gì đó lập dị và khá khác thường. Trong tác phẩm của Poe, đó là Dupin – một người ham thích thiền định cũng như “Nàng đêm” - bóng tối. Y chuyên sáng tạo cũng như phân tính, với một tính khí có phần thất thường với đủ thứ suy luận được rút ra từ các nền tảng mang tính triết lý.

Khác với những “thám tử” sau này, Sherlock Holmes có lẽ là nhân vật chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ Dupin, khi cũng là người suy luận chứ không trực tiếp có những mối liên hệ với các vụ án như trong các nhân vật của trinh thám hiện đại sau này. Ở Dupin, những đặc trưng về óc quan sát đã được xây dựng như điểm độc đáo ở nhân vật này. Rất nhiều nguyên lí phá án đã được Poe gán cho nhân vật, từ đó hình thành nên một mẫu hình nhân vật độc đáo và không giống ai.

Rằng hắn, khác với giới chuyên nghiệp, vẫn thường chú trọng đến những sự kiện phụ trội chứ không tập trong vào những gì được cho là trọng tâm. Hắn coi trọng những điểm dị biệt, khác thường, và thường trực trả lời câu hỏi là “Chuyện gì chưa từng xảy ra mà giờ đã xảy ra? chứ không phải Chuyện gì đã xảy ra?”. Sự ngẫu nhiên, tính thứ yếu cũng như tình cơ có phần phi logic đôi khi là điểm yếu của các truyện này, tuy thế nó cũng được giảm nhẹ phần nào bằng các phân tích đã được sắp xếp và thống nhất của Poe.

Cũng như Holmes, Dupin phá án bằng suy luận, và tôn thờ nền tảng của Chamfort: “Bất kì ý tưởng và quy ước nào được chấp nhận rộng rãi đều sai lầm hết, vì nó chỉ đơn giản là điều số đông thấy thuận tiện”. Cũng như trong các mảng đề tài khác, Poe cũng gạt bỏ những truyền thống cũ, để tiến sâu hơn vào những khía cạnh không được nhiều người quan tâm, từ đó làm nên dấu ấn của mình.

Như vậy qua sự tiên phong ở hai thể loại kinh dị - siêu nhiên – tâm lý và truyện trinh thám – phá án với những sáng tạo vô cùng mới mẻ, Poe đã mang đến một nhãn quan vô cùng độc đáo từ những sự vật, sự việc tồn tại từ lâu. Từ đó làm trọn vẹn thêm cách nhìn, mang đến một khía cạnh khác vẫn còn giá trị cho đến ngày nay.

NGÔ THUẬN PHÁT

_________________
Cầu cho Ukraine sớm có Hoà Bình.
LDN

LDN


Back to top Go down

Thumb up Re: Sách

Post by Sponsored content



Sponsored content


Back to top Go down

Page 39 of 39 Previous  1 ... 21 ... 37, 38, 39

View previous topic View next topic Back to top

- Similar topics

Permissions in this forum:
You cannot reply to topics in this forum